Phát triển giáo dục tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2020
Đăng ngày 26/09/2011 bởi admin



CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 QUY HOẠCH Phát triển giáo dục tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2020 
(Kèm theo Quyết định số: 76 /QĐ-UBND ngày20 tháng 01 năm 2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn)

 MỞ ĐẦU 
  Quy hoạch phát triển giáo dục là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, góp phần chủ động trong xu thế hội nhập và phát triển. Việc xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục góp phần thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020. Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng "Quy hoạch phát triển giáo dục tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011- 2020", cụ thể như sau: 
 1. Sự cần thiết quy hoạch 
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp, giúp đỡ của các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể của Trung ương và địa phương, sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, giáo dục tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều chuyển biến tích cực, mạng lưới trường lớp ngày càng được mở rộng, tỷ lệ huy động trong độ tuổi đến trường ngày một tăng, chất lượng giáo dục ngày một tiến bộ, Tỉnh Lạng Sơn được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học – chống mù chữ năm 1997; đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2006; đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2008; công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, chất lượng giáo dục đại trà được duy trì; tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học đã giảm, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông được củng cố, ổn định trên 90%. Giáo dục mũi nhọn được quan tâm, kết quả bồi dưỡng và thi học sinh giỏi các cấp ổn định và có chiều hướng tích cực trong nhiều năm qua. 
Đánh giá một cách tổng quát, giáo dục Lạng Sơn đứng vào tốp trung bình của cả nước và tốp khá trong khu vực. 
Tuy nhiên giáo dục Lạng Sơn còn nhiều hạn chế, cụ thể như sau: 
Hệ thống giáo dục tỉnh Lạng Sơn chưa được quy hoạch tổng thể. Mạng lưới trường mầm non khu vực khó khăn, khu vực đặc biệt khó khăn chưa được đầu tư, quan tâm đầy đủ. Nhiều trường chưa được quy hoạch đất đai, chưa được xây dựng kiên cố, thiếu phòng học, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm, thư viện và các trang thiết bị phục vụ cho giáo dục và đào tạo. 
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các cấp học được bố trí cơ bản đủ về số lượng, trình độ đào tạo cơ bản đạt chuẩn theo quy định luật giáo dục, tuy nhiên năng lực, chất lượng thực chất của đội ngũ còn thấp; trình độ tin học ở mức độ thấp, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giáo dục còn nhiều hạn chế. 
Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục đã được quan tâm, đầu tư, tuy nhiên cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhiều trường còn thiếu, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa cao. 
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên, nhu cầu Quy hoạch phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 là cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh; đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tạo điều kiện xây dựng trường chuẩn quốc gia; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục và công tác phổ cập giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học. 
 2. Cơ sở pháp lý quy hoạch 
- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003; 
- Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14/6/2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009; Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; 
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; 
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; 
- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01 tháng 7 năm 2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ. 
- Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2012”; 
- Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015; 
- Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch xây dựng phòng học, phòng công vụ giáo viên giai đoạn 2008-2012; 
- Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012; 
- Chỉ thị số 4899/CT-BGDĐT ngày 04/8/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009 - 2010; 
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nhiệm kỳ 2010 - 2015; - Chỉ thị số 40-CT/TU ngày 26/8/2004 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; 
- Quyết định số 15/2006/QĐ-UBND ngày 31/8/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020; 
 - Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020. 
 Phần thứ nhất 
CÁC YẾU TỐ VÀ NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 
 1. Vị trí địa lý Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, có 10 huyện và 01 thành phố với 226 xã, phường, thị trấn, trong đó 10 huyện miền núi (5 huyện miền núi, biên giới); 68 xã đặc biệt khó khăn. 
Về điều kiện tự nhiên: Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh. Dạng địa hình phổ biến là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển. Nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541m. Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía đông, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông. 
Lạng Sơn có vị trí 20°27'-22°19' vĩ Bắc và 106°06'-107°21' kinh Đông; là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, nằm ở vị trí có đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới. 
Mặt khác, Lạng Sơn có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các nước vùng Trung Á, châu Âu và các nước khác. 
So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Lạng Sơn có vị trí địa lý tương đối thuận lợi: có một số trục đường giao thông (đường bộ, đường sắt) quan trọng của quốc gia chạy qua. Thành phố Lạng Sơn cách thủ đô Hà Nội trên 150 km tính theo đường ô tô, nằm trên quốc lộ 1A và đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn lên cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, nơi giao lưu buôn bán sầm uất hiện nay, là điều kiện quan trọng khi hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng (Việt Nam) đi vào hoạt động để phát triển sản xuất hàng hóa và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế. 
Ngoài ra, Lạng Sơn cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của “tam giác kinh tế phát triển”: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật của cả nước (với hệ thống các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu của trung ương), nơi tập trung đầu mối kinh tế đối ngoại, giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, tốc độ đô thị hóa nhanh sẽ là thị trường tiêu thụ lớn về nông sản hàng hóa và các hàng tiêu dùng khác. 
  Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá phong phú, Lạng Sơn còn là tỉnh miền núi có hệ thống giao thông thuận lợi, có đường biên giới chung với Trung Quốc dài trên 230 km; có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 2 cửa khẩu quốc gia (Chi Ma, Bình Nghi) và 7 cặp chợ biên giới tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành điểm giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của tỉnh trong cả nước với Trung Quốc, sau đó sang các nước Trung Á, châu Âu. Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, Lạng Sơn càng có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ. Khu kinh tế cửa khẩu là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, là khu vực phát triển năng động nhất, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, là trọng tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh. 
 2. Dân số và lao động Dân số tỉnh Lạng Sơn có khoảng 732.515 người (điều tra dân số 01/4/2009), với nhiều dân tộc anh em, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 42,97%, Tày chiếm 35,92%, Kinh 16,5%, còn lại là các dân tộc Dao, Hoa, Sán Chay, H'Mông. Số người trong độ tuổi lao động là 492.151 người (nữ 250150 người) ... Nhìn chung các cộng đồng dân cư sống đoàn kết, có các giá trị văn hóa của dân tộc; có truyền thống yêu nước, cách mạng. 
  Dân cư trên địa bàn tỉnh phân bố không đồng đều giữa khu vực thành phố, thị trấn với khu vực nông thôn, nhất là các xã thuộc khu vực đặc biệt khó khăn. Khu vực thành phố, trung tâm huyện có mật độ dân số cao, trong khi đó khu vực các xã thuộc vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn mật độ dân số rất thưa thớt, phân tán; dân số khu vực thành thị chiếm 19,73%, nông thôn chiếm 80,27%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong những năm gần đây khoảng 0,96%. 
Mật độ dân số trung bình là 88 người/Km2. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 832.378,38 ha; đất nông nghiệp 521.015,18 ha; đất phi nông nghiệp 39.466,99 ha; đất chưa sử dụng còn 271.896,21 ha. Lao động trong các lĩnh vực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn chủ yếu tập trung vào các hoạt động: Dịch vụ, Thương mại; Nông lâm nghiệp và công nghiệp – xây dựng. Hàng năm có khoảng hơn 1 vạn học sinh nhập học lớp 1 và trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt 32%; trung bình hàng năm có khoảng 1 đến 1,2 vạn lao động được giải quyết việc làm. 
3. Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội 
+ Về Công nghiệp - Xây dựng: Lạng Sơn đang hình thành những khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung tại thành phố Lạng Sơn, huyện Chi Lăng.... có thể phát triển một số lĩnh vực như: Chế biến nông sản - lâm sản - thực phẩm; cơ khí; hoá chất; sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản; phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống. 
+ Về Nông nghiệp: Phát triển nông nghiệp hàng hoá, hình thành những vùng chuyên canh tập trung như: Vùng cây ăn quả ở các huyện Chi Lăng, Bắc Sơn, Lộc Bình....; vùng cây nguyên liệu thuốc lá ở các huyện Bắc Sơn, Hữu Lũng, Chi Lăng. Vùng lúa tập trung ở các huyện Tràng Định, Hữu Lũng, Lộc Bình, Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng, Văn Lãng. 
+ Về Thương mại, dịch vụ: Hình thành nên những khu thương mại tập trung tại thành phố Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng, Tân Thanh – Văn Lãng. Các khu du lịch nổi tiếng như: Mẫu Sơn, Tam Thanh, Nhị Thanh, Tô Thị, Khu di tích lịch sử Chi Lăng, Bắc Sơn, thành nhà Mạc... 
Tóm lại: Với đặc điểm địa hình và vị trí địa lý tương đối thuận lợi; tiềm năng lao động của tỉnh khá dồi dào; lực lượng lao động có cơ cấu độ tuổi trẻ, tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (32%), thiếu lao động có tay nghề, giáo dục và đào tạo Lạng Sơn đứng trước những thời cơ và thách thức lớn, phải đi trước một bước nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cũng như đảm bảo sự công bằng về cơ hội học tập cho mọi người. Vì vậy cần thiết quy hoạch phát triển giáo dục của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 một cách đồng bộ, đáp ứng mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh và bền vững của tỉnh. 
 Phần thứ hai 
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2001- 2010 I. TÌNH HÌNH CHUNG 
 1. Về mạng lưới trường, lớp 
Năm học 2010 - 2011, tỉnh Lạng Sơn có 650 trường (tăng 252 trường so với năm 2001) và 9 cơ sở mầm non tư thục. Trong đó: 139trường mầm non (MN); 246 trường tiểu học (TH); 24 trường phổ thông cơ sở (PTCS); 202 trường trung học cơ sở (THCS); 25 trường trung học phổ thông (THPT); 11 Trung tâm giáo dục thường xuyên (TT GDTX); 01 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp; 01 trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) và 01 trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh. 
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 02 trường Cao đẳng (01 trường do trung ương quản lý và 01 trường do tỉnh quản lý), 01 trường trung cấp chuyên nghiệp, 01 trường trung cấp nghề; Trường Chính trị Hoàng Văn Thụ, các Trung tâm chính trị thuộc quản lý của các Huyện ủy, Thành ủy và các trung tâm dạy nghề ngắn hạn thuộc Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quản lý. 
Nhìn chung cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu người học. Mạng lưới trường, lớp cấp tiểu học được mở đến tận thôn bản, tạo điều kiện cho học sinh đi học được thuận lợi, tuy nhiên do địa hình phân tán, nhỏ lẻ, trong khi dân số trẻ trong độ tuổi không nhiều nên các xã thuộc khu vực khó khăn, khu vực đặc biệt khó khăn còn tồn tại mô hình lớp học ghép nhiều trình độ, do vậy chất lượng giáo dục ở khu vực này rất hạn chế. 
2. Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên 
Năm học 2010 - 2011, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn có 17291 cán bộ, giáo viên, nhân viên các cấp học, trong đó: 233cán bộ, chuyên viên (bao gồm cả công chức, viên chức) thuộc cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục; 1446 cán bộ quản lý giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; 13233 giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; 2150 nhân viên trường học mầm non, phổ thông; 184 cán bộ, giáo viên, nhân viên trường cao đẳng sư phạm và 45 cán bộ, giáo viên, nhân viên trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật. 
Theo quy định hiện hành của Luật giáo dục, đội ngũ cán bộ, giáo viên các cấp học trên địa bàn tỉnh hầu hết đạt chuẩn trình độ đào tạo; số giáo viên trên chuẩn có tỷ lệ cao. Tuy nhiên chất lượng đội ngũ chưa tương xứng với trình độ đào tạo. Nhiều giáo viên tiểu học, mầm non được tuyển dụng trong những năm trước đây (giai đoạn 1990-2000) ở các xã thuộc khu vực đặc biệt khó khăn có trình độ đào tạo thấp, chưa đạt chuẩn; quá trình đào tạo còn chắp vá, do vậy chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế, yếu kém. 
Giáo viên bộ môn tiếng Anh cấp Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh trong những năm trước đây chủ yếu đào tạo theo hệ không chính quy, do vậy chất lượng giáo dục môn tiếng Anh còn nhiều hạn chế, dẫn đến tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông ở bộ môn tiếng Anh của tỉnh ở mức thấp. 
  II. GIÁO DỤC CÁC CẤP 
  1. Giáo dục Mầm non 
  1.1. Quy mô, mạng lưới 
Mạng lưới lớp học mầm non được mở đến các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện và thu hút trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến trường. Tuy nhiên còn nhiều xã ở khu vực khó khăn, khu vực đặc biệt khó khăn và khu vực biên giới chưa có trường mầm non. Những nơi này, giáo dục mầm non gắn với trường phổ thông; các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo chưa có phòng học riêng mà sử dụng chung lớp học với cấp tiểu học hoặc học nhà văn hóa thôn, do vậy chất lượng giáo dục mầm non ở khu vực này có rất nhiều hạn chế và việc huy động trẻ em trong độ tuổi đi học nhà trẻ, mẫu giáo gặp nhiều khó khăn. 
Năm học 2010 – 2011, có 139 trường mầm non (3 ngoài công lập) và 09 cơ sở giáo dục mầm non tư thục ở 128/226 (56,64%) xã, phường, thị trấn, trong đó 18 trường mầm non đã được thành lập, nhưng chưa có địa điểm riêng; 98 xã thuộc khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới chưa có trường mầm non. Nhiều thôn bản ở khu vực này chưa có nhóm, lớp mầm non. 
Năm học 2010 – 2011, có 1890 nhóm trẻ và lớp mẫu giáo. Ngoài điểm trường chính, các nhóm lớp mầm non phân bố rải rác ở 678 điểm trường lẻ, trong đó có 486 điểm trường lẻ chưa có lớp học riêng; 711 lớp mầm non sử dụng chung cơ sở vật chất với giáo dục phổ thông; 269 lớp mượn nhà văn hóa thôn, mượn nhà dân; 11 lớp phải đi thuê địa điểm 
- Năm học 2010 – 2011, có 341 nhóm (tăng 64 nhóm so với năm học 2009 -2010) trong đó có 312 nhóm trẻ công lập, 29 nhóm trẻ ngoài công lập. Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đi học: 5250/ 24614 (21,33%); 
- Năm học 2010 – 2011, có 1549 lớp mẫu giáo (41 lớp ngoài công lập); huy động được 30403/32951 (92,27%) trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo, trong đó có 1442 trẻ em học lớp ngoài công lập. Trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo có 875 lớp với 10881/10967 trẻ em (99,22%) 
- Năm học 2010 – 2011, có 65 trẻ khuyết tật học hòa nhập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo. Việc thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn tỉnh có nhiều thuận lợi, được sự quan tâm, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, sự ủng hộ của các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể tỉnh và các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện giai đoạn 2010 - 2015 và đang được xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết cho từng năm. 
 1.2. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 
 1.2.1. Cán bộ quản lý 
 Năm học 2010 – 2011, có 338 cán bộ quản lý giáo dục mầm non; 100% có trình độ đào tạo từ trung cấp trở lên, trong đó 231 (68,34%) trên chuẩn; 14 cán bộ có trình độ cử nhân quản lý giáo dục (QLGD); 56,71% cán bộ có trình độ tin học A trở lên; 226 đảng viên (66,68%); 
1.2.2. Giáo viên mầm non 
Năm học 2010 – 2011, toàn tỉnh có 2399 giáo viên mầm non (ngoài công lập 101).95,53% giáo viên có trình độ đào tạo từ trung cấp sư phạm mầm non trở lên (đạt chuẩn trình độ đào tạo), trong đó 25,05% trên chuẩn; 36,62% có trình độ tin học A trở lên, số giáo viên chưa chuẩn chủ yếu là giáo viên tiểu học chuyển dạy mầm non. 
Số cán bộ quản lý và giáo viên cấp học mầm non còn thiếu về số lượng và thiếu tính ổn định, dẫn đến những xáo trộn trong bố trí giáo viên đứng lớp và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Tỷ lệ giáo viên/nhóm, lớp: 1,27. 
 1.3. Chất lượng giáo dục 
 Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn đã tích cực triển khai thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới ở các trường có điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên. Chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách ở các lớp mẫu giáo độc lập, giảm dần số lớp học chương trình 26 tuần. Chủ động và có các giải pháp triển khai thực hiện chương trình phù hợp với tình hình thực tế của các địa phương, bảo đảm chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ, chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em 5 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1. 
Ngành Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo thực hiện các yêu cầu về đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Thực hiện tốt các quy định về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, quản lý công tác tiêm chủng, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở nuôi dưỡng, chăm sóc và tổ chức ăn bán trú; chỉ đạo các trường bán trú thực hiện nghiêm túc hợp đồng mua bán thực phẩm, quy trình chế biến và lưu mẫu thức ăn. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức phòng chống dịch bệnh và vệ sinh dinh dưỡng cho đội ngũ giáo viên, nhân viên. Tổ chức tập huấn cho cán bộ, giáo viên, nhân viên về sử dụng phần mềm để tính khẩu phần ăn hợp lý cho trẻ. 
Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trên địa bàn tỉnh có nhiều tiến bộ, toàn tỉnh có 125/139 (89,9%) trường với 27168 trẻ em (4352 trẻ nhà trẻ và 22816 trẻ mẫu giáo) thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới; 24458 trẻ em được học 2 buổi/ngày (4765 trẻ nhà trẻ và 19693 trẻ mẫu giáo); có 34102 (93,66%) trẻ được khám sức khỏe định kỳ; 36409 (100%) trẻ được theo dõi phát triển cân nặng, chiều cao. Không để xảy ra thương tích, ngộ độc, mất an toàn trong các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ gặp khó khăn, nhất là các trường mầm non nông thôn, các lớp mầm non gắn với trường phổ thông. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục còn cao (14,9% về chiều cao và 16,6% về cân nặng). 
Trên địa bàn tỉnh, số trẻ em được học bán trú, học 2 buổi/ngày còn thấp. Riêng trẻ em năm tuổi học bán trú và học 2 buổi/ ngày đạt tỷ lệ 52% và có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương (thành phố Lạng Sơn có tỷ lệ cao nhất: đạt 86% và đơn vị huyện đạt tỷ lệ thấp nhất là 22%). 
Nhiều trường mầm non tổ chức ăn bán trú còn sử dụng bếp tạm, chưa đảm bảo theo quy trình một chiều là 84 (77,8%) và còn 31 trường chưa có công trình vệ sinh. 
Chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ kinh phí cho giáo dục mầm non chưa hợp lý. Kinh phí chi thường xuyên cho giáo dục mầm non chủ yếu là chi lương, kinh phí chi cho cho hoạt động chuyên môn rất hạn hẹp. 
 2. Giáo dục phổ thông 
 2.1. Giáo dục Tiểu học 
 2.1.1. Mạng lưới, quy mô trường, lớp, học sinh 
  - Mạng lưới trường tiểu học trên địa bàn tỉnh cơ bản đã ổn định, phần lớn trường tiểu học đã được tách khỏi phổ thông cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, chỉ đạo dạy – học phù hợp với đặc thù của cấp học; các trường từng bước được đầu tư xây dựng kiên cố hóa. Mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất 01 trường và được xây dựng ở trung tâm xã. Từ khối lớp 1 đến lớp 5 mở đến điểm trường, tạo điều kiện đưa giáo dục đến với học sinh và cộng đồng. 
- Năm học 2010 – 2011, toàn tỉnh có 270 trường (246 trường tiểu học, 24 trường PTCS) có cấp tiểu học phân bố ở 818 điểm trường (548 điểm trường lẻ). 247 (91,48%) trường tổ chức học nhiều hơn 5 buổi/tuần, trong đó 104 trường học từ 6 - 8 buổi/ tuần và143 trường với 48,9% học sinh học từ 9 - 10 buổi/ tuần. Toàn tỉnh có 3626 lớp tiểu học, trong đó 349 lớp bán trú; 1328 lớp học từ 9 - 10 buổi/ tuần; 1474 lớp học từ 6 - 8 buổi/ tuần và 824 lớp học 5 buổi/tuần; trên địa bàn tỉnh còn 387 lớp học ghép từ 2 đến 3 trình độ ở các xã khu vực đặc biệt khó khăn; có 1241/1312 (94,59%) học sinh khuyết tật học hòa nhập từ lớp 1 đến lớp 5 ở 222 trường - 911 lớp. 
- Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt: 11056/11098 (99,6%) 
2.1.2. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 
Năm học 2010 – 2011, có 557 cán bộ quản lý (tăng 221 so với năm 2001); 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 77,38% trên chuẩn; 59,1% có trình độ Tin học A trở lên; 55,84% cán bộ được bồi dưỡng kiến thức quản lý giáo dục theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; 57 cán bộ có trình độ cử nhân quản lý giáo dục. Có 4852 giáo viên; 99,98 % đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 52,49% trên chuẩn; 39,98 % có trình độ tin học A trở lên. 
2.1.3. Chất lượng giáo dục 
Chất lượng giáo dục tiểu học đã có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học hàng năm được duy trì ổn định ở mức cao (trên 99%). Tuy nhiên chất lượng giáo dục không đồng đều giữa khu vực thành thị với khu vực nông thôn và giữa các loại hình lớp học 1 buổi/ ngày so với lớp học 2 buổi/ ngày. 
Kết quả xếp loại học lực năm học 2009 - 2010 của lớp học 2 buổi/ ngày so với kết quả xếp loại học lực chung toàn tỉnh, cụ thể như sau:

Môn học

Xếp loại  học lực

XL chung toàn tỉnh (%)

lớp học 2 buổi/ngày (%)

 

Tiếng Việt

Giỏi

29,90

39,00

Khá

39,70

38,40

Trung bình

28,60

21,40

Yếu

1,80

1,20

 

Toán

Giỏi

42,50

53,10

Khá

29,90

26,20

Trung bình

26,10

19,60

Yếu

1,50

1,10

 
Chất lượng giáo dục Tiểu học tỉnh Lạng Sơn đạt mức độ trung bình so với toàn quốc và đạt mức độ khá so với các tỉnh vùng Đông bắc. 

Môn học

Học lực

Toàn quốc (%)

Khu vực Đông Bắc (%)

 Lạng Sơn (%)

 

Tiếng Việt

Giỏi

44,8

18,9

29,9

Khá

33,5

37,3

39,7

Trung bình

19,6

31,2

28,6

Yếu

2,1

2,7

1,8

 

Toán

Giỏi

50,6

38,9

42,5

Khá

27,5

30,1

29,9

Trung bình

19,3

36,3

26,1

Yếu

2,3

4,5

1,5


  - Kết quả xếp loại chung năm học 2009-2010: 
Về hạnh kiểm: 97,6% học sinh tiểu học thực hiện đầy đủ, 2,4 % học sinh thực hiện chưa đầy đủ. Về xếp loại học lực chung: 23,8% giỏi; 33,8% khá; 39,3% trung bình, 3,1% yếu.97,3% học sinh lên lớp thẳng. Số học sinh phải kiểm tra lại trong hè 2,7%; 10637/10698 (99,4%) học sinh hoàn thành chương trình tiểu học. 60,2% học sinh khuyết tật học hòa nhập đạt từ trung bình trở lên. 
2.2. Giáo dục trung học cơ sở 
2.2.1. Mạng lưới, quy mô trường, lớp 
Mạng lưới trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh cơ bản đã ổn định và từng bước được đầu tư xây dựng kiên cố hóa. Hầu hết các xã, phường, thị trấn có 01 trường trung học cơ sở hoặc trường phổ thông cơ sở (PTCS) ở trung tâm xã. 
Năm học 2010 - 2011, toàn tỉnh có 226 trường (202 trường THCS và 24 trường PTCS); 1832 lớp - 47085 học sinh, trong đó có 10 trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở, mỗi trường có quy mô từ 8 đến 10 lớp với trên 200 học sinh. 
Hầu hết các trường trên địa bàn tỉnh đều học 1 buổi/ ngày, toàn tỉnh chỉ có 31 trường,278 lớp với 8115 học sinh ở khu vực thành phố, thị trấn và các trường phổ thông dân tộc nội trú THCS học 2 buổi/ ngày. 
Tỷ lệ huy động học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào THCS sở đạt 98,8% .Tỷ lệ tốt nghiệp THCS ở các huyện, thành phố đạt trên 98%. 
2.2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 
- Về cán bộ quản lý 
Năm học 2010 - 2011 có 446 cán bộ quản lý (tăng 148 so với năm 2001); 98,43% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó có 1 thạc sĩ, 215 đại học (48,43%); 95% được bồi dưỡng về công tác quản lý trường học, 62,33% được bồi dưỡng theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 28% có trình độ cử nhân quản lý giáo dục; 70,23% cán bộ đạt trình độ Tin học A trở lên. 
- Về giáo viên 
Toàn tỉnh có 4306 giáo viên trung học cơ sở (tăng 1262 so với năm 2001) và cơ bản đã đủ số lượng; trình độ đào tạo đội ngũ ngày càng nâng cao, tuy nhiên cơ cấu giáo viên các bộ môn chưa cân đối và không đồng bộ, thiếu giáo viên Tin học, công nghệ, giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy; thừa giáo viên Văn, Sử, Ngoại ngữ. 89,25% giáo viên đạt chuẩn trình độ, trong đó 21,62% trên chuẩn. Số chưa đạt chuẩn chủ yếu là giáo viên thể dục, âm nhạc, mỹ thuật, có 44,71% có trình độ tin học A trở lên. 
Tỷ lệ giáo viên trên lớp (1,98 GV/lớp), tỷ lệ học sinh/giáo viên 12,57. 
Hầu hết giáo viên được đào tạo đạt chuẩn trình độ theo quy định đối với cấp học, tuy nhiên còn một số cán bộ, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò trách nhiệm, chưa thực sự tâm huyết với nghề, tinh thần trách nhiệm chưa cao, còn biểu hiện tiêu cực trong dạy học, trong kiểm tra, đánh giá, để tình trạng học sinh học lực yếu còn kéo dài mà chưa có biện pháp để giúp đỡ các em tiến bộ; còn hạn chế về năng lực chuyên môn; chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá đúng chất lượng thực; chưa sâu sát đối tượng, chưa khơi dậy niềm ham mê và hứng thú học tập của học sinh, chưa giúp học sinh nhận thức đầy đủ về động cơ, mục đích, thái độ học tập. 
2.2.3. Chất lượng giáo dục 
 Chất lượng giáo dục các cấp học đã có những chuyển biến đáng kể so với năm 2001, tuy nhiên còn nhiều hạn chế, yếu kém và có sự phân hóa giữa khu vực thành phố, thị trấn với các xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn. 
Đặc biệt từ khi không còn chế độ thi tốt nghiệp cấp trung học cơ sở, chất lượng giáo dục có phần giảm sút và đánh giá, xếp loại học sinh chưa đúng thực chất. Đồng thời do hầu hết các trường đều thực hiện học 1 buổi/ngày cho nên chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế. Các chỉ số đánh giá học lực giỏi của Lạng Sơn thấp hơn so với mặt bằng của toàn quốc và đạt mức trung bình so với các tỉnh miền núi phía bắc, kết quả cụ thể như sau (nguồn Bộ Giáo dục và Đào tạo): 

Môn học

 

Toàn quốc

Khu vực miền

núi phía bắc

Tỉnh Lạng Sơn

 

Hạnh kiểm

Tốt

70,00 %

61,40 %

67,00 %

Khá

24,50 %

31,00 %

28,50 %

Trung bình

5,20 %

7,10 %

4,30 %

Yếu

0,31 %

0,41 %

0,16 %

 

Học lực chung

Giỏi

15,1 %

6,78 %

6,79 %

Khá

33,5 %

30,40 %

33,5 0%

Trung bình

42,1 %

53,70 %

53,80 %

Yếu

8,7 %

8,80 %

5,80 %

Kém

0,5 %

0,30 %

0,10 %

2.3. Giáo dục trung học phổ thông 
2.3.1. Quy mô trường, lớp, học sinh 
Năm học 2010 - 2011 toàn tỉnh có 25 trường (02 ngoài công lập) với 648 lớp, 26558học sinh; tỷ lệ 39,31 học sinh/lớp, hệ ngoài công lập có 17 lớp với 693 (2,73%) học sinh; có36 lớp với 1224 học sinh học 2 buổi/ngày (chủ yếu là trường chuyên Chu Văn An và trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh). 

2.3.2. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 
Năm học 2010 - 2011có 80 cán bộ quản lý (tăng 52 so với năm 2001); 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 13 thạc sỹ (16,45%); 92% được bồi dưỡng về kiến thức quản lý trường học, trong đó 46,25% được bồi dưỡng tập trung theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; 15% có trình độ cao cấp lý luận chính trị. 
100% Hiệu trưởng đạt chuẩn Hiệu trưởng từ mức trung bình trở lên, có trên 60% cán bộ quản lý đạt từ mức khá trở lên; 95,56% có trình độ tin học A trở lên. 
Năm học 2010 - 2011, toàn tỉnh có 1470 giáo viên (tăng 975 so với năm 2001);99,86% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 1,7% trên chuẩn; 87,9% có trình độ tin học A trở lên. Số giáo viên cấp trung học phổ thông cơ bản đã đủ số lượng (tỷ lệ giáo viên/lớp là2,17), số giáo viên thiếu chủ yếu là bộ môn Vật Lý, Hóa Học. 
Chất lượng đội ngũ giáo viên tiếp tục được nâng cao và bổ sung, nhiều giáo viên được cử đi ôn và dự thi đào tạo thạc sĩ. Tuy nhiên phần nhiều giáo viên bộ môn tiếng Anh được đào tạo hệ không chính quy, do vậy chất lượng môn học này còn nhiều hạn chế, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông còn thấp, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung của tỉnh. 
2.3.3. Chất lượng giáo dục 
Chất lượng giáo dục cấp trung học phổ thông đã có nhiều chuyển biến tích cực; huy động 80% học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT; 87,5% học sinh lên lớp thẳng; trên 90% học sinh tốt nghiệp THPT, trong đó có trên 6% loại khá, giỏi. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT Lạng Sơn thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng (năm 2010 có trên25 % học sinh tốt nghiệp THPT trúng tuyển vào Đại học, cao đẳng). 
Tuy nhiên chất lượng giáo dục chung của tỉnh còn nhiều hạn chế, yếu kém, tỷ lệ học sinh khá, giỏi chưa cao và còn nhiều học sinh yếu, thậm chí còn học sinh có học lực kém; năm học 2009 - 2010 chỉ có 25,84% học sinh có học lực khá, giỏi, trong đó học lực giỏi chỉ có 1,38%. 
Kết quả đánh giá xếp loại hạnh kiểm và học lực cuối năm học 2009 - 2010 cấp THPT của tỉnh Lạng Sơn so với 15 tỉnh miền núi phía bắc và so với cả nước như sau:

Xếp loại hạnh kiểm và học lực

Toàn quốc (%)

Khu vực miền

núi phía bắc (%)

 Lạng Sơn (%)

 

Hạnh kiểm

Tốt

64,16

56,95

65,04

Khá

27,74

32,40

27,48

Trung bình

7,10

9,30

6,62

Yếu

1,05

1,36

0,86

 

Học lực chung

Giỏi

5,14

2,65

1,38

Khá

32,04

27,13

24,46

Trung bình

47,94

53,79

61,46

Yếu

14,00

16,00

12,60

Kém

0,08

0,40

0,10

 
Kết qủa thi tốt nghiệp Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn trong những những năm gần đây luôn ổn định ngày càng có chất lượng hơn. Tuy nhiên tỷ lệ học sinh tốt nghiệp loại khá giỏi còn thấp, cụ thể kết quả thi tốt nghiệp từ năm 2007 đến nay so với các tỉnh trong khu vực và so với cả nước như sau: 

Năm tốt nghiệp

Kết quả xếp loại của tỉnh

Xếp loại khu vực

Xếp loại toàn quốc

Xếp loại TN

TN khá, giỏi

Tỷ lệ % chung

Tỷ lệ % khá, giỏi

Tỷ lệ % chung

Tỷ lệ % khá, giỏi

Tỷ lệ %

Xếp thứ

Tỷ lệ %

Xếp thứ

2007 lần 1

54,2

47

3,1

47

23,8

4,4

66,7

10,6

2008 lần 1

76,5

27

4,6

48

54,5

5,1

76

11,1

2009

85,2

23

6,00

39

79,7

8,2

83,8

11,2

2010

93,88

31

5,72

40

93,81

9,57

92,57

10,02


Để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, trường trung học phổ thông chuyên của tỉnh đang được mở rộng, nâng cấp, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo đủ các điều kiện cần thiết cho công tác giáo dục và đào tạo của trường đạt hiệu quả cao. Đội ngũ cán bộ, giáo viên hiện nay của trường cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và tiếp tục được bổ sung, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. 
3. Giáo dục thường xuyên 
- Về quy mô, mạng lưới 
Toàn tỉnh có 11 trung tâm giáo dục thường xuyên được phân bố ổn định trên địa bàn các huyện, thành phố (mỗi đơn vị có 01 Trung tâm). Các trung tâm chủ yếu thực hiện chức năng dạy bổ túc trung học phổ thông; trung tâm cấp tỉnh có chức năng quản lý các lớp đại học, cao đẳng do các trường đại học đặt địa điểm tại Trung tâm. 
226 xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng, trong đó có 50% trung tâm hoạt động có hiệu quả mức độ khá, số còn lại hoạt động chưa có hiệu quả. 
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống trung tâm bồi dưỡng chính trị thuộc Huyện ủy, Thành ủy quản lý và hệ thống các Trung tâm dạy nghề ngắn hạn. 
- Về đội ngũ: 
Năm học 2010 - 2011 có 290 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, trong đó: 100% cán bộ quản lý đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 4/25 (16%) trên chuẩn; 13/25 (52%) được bồi dưỡng kiến thức quản lý giáo dục theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; 3/25 có trình độ cao cấp lý luận chính trị; 
100% có trình độ tin học A trở lên. 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 4/206 (1,94%) trên chuẩn;91,46% có trình độ tin học A trở lên. Nhìn chung giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên có nhiều cố gắng, gắn bó với nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, tuy nhiên còn nhiều giáo viên không tâm huyết, gắn bó với giáo dục thường xuyên. 
Số nhân viên của Trung tâm chủ yếu là lao động hợp đồng và còn thiếu (do chưa có quy định về định mức và quy định loại hình nhân viên). 
- Về Chất lượng giáo dục 
+ Chất lượng giáo dục của các trung tâm còn thấp, trong năm học toàn tỉnh có 4865học sinh bổ túc THPT, kết quả xếp loại cuối năm học có 92,89 % học viên xếp loại hạnh kiểm khá, tốt; có 3,2% xếp học lực loại khá và còn trên 32% xếp học lực yếu. Để khắc phục tình trạng yếu kém trong giáo dục thường xuyên, từ năm học 2010 -2011, các Trung tâm đã có nhiều đổi mới, thực hiện bổ trợ kiến thức, giúp các học viên tự tin hơn trong học tập. 
Hệ thống các lớp xóa mù chữ và bổ túc trung học cơ sở tiếp tục được duy trì để đảm bảo vững chắc và tiến tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi.
Kết qủa thi tốt nghiệp bổ túc Trung học phổ thông của tỉnh trong những năm gần đây luôn ổn định và ngày càng có chất lượng hơn. 
Tuy nhiên tỷ lệ học viên tốt nghiệp loại khá, giỏi còn thấp, cụ thể kết quả thi tốt nghiệp từ năm 2007 đến nay so với 15 tỉnh miền núi phía bắc và so với cả nước như sau:

Năm tốt nghiệp

Kết quả xếp loại TN của tỉnh

Tỷ lệ % tốt nghiệp của khu vực

Tỷ lệ % tốt nghiệp chung toàn quốc

Tỷ lệ %

Xếp thứ

2007 (lần 1)

25

23

23,8

26,47

2008 (lần 1)

50,25

19

54,5

42,55

2009

49,5

16

79,7

39,7

2010

80,01

23

93,81

66,71


4. Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề 
4.1. Hệ thống trường cao đẳng và dạy nghề của tỉnh 
Toàn tỉnh hiện có 6 trường chuyên nghiệp, ngoài ra còn một số cơ sở dạy nghề. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được phân bố như sau: 
- 01 Trường do trung ương quản lý: Trường (Cao đẳng Nghề Công nghệ và Nông lâm Đông Bắc).
- 05 Trường do địa phương quản lý: 
+ 02 trường Cao đẳng: Cao đẳng Sư phạm và Cao đẳng Y tế 
+ 02 trường trung cấp: Kinh tế - Kỹ thuật và Văn hóa – Nghệ thuật. 
+ 01 trường trung cấp nghề: Trung cấp nghề Việt – Đức. 
Hệ thống đào tạo và đào tạo nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã góp phần đào tạo người lao động có trình độ và năng lực, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động cho địa phương. 
4.2. Công tác tuyển sinh đào tạo 
 Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội, các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh đã chủ động trong việc mở rộng và đa dạng hóa các chuyên ngành đáp ứng nhu cầu của xã hội. 
Bên cạnh việc cung cấp kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp các trường đã chú ý đến việc giáo dục đạo đức, an toàn vệ sinh lao động, ý thức công dân và tác phong công nghiệp cho người lao động; chủ động triển khai thực hiện công tác đào tạo dưới nhiều hình thức: đào tạo chính quy tập trung, đào tạo tại chức cho đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở, đào tạo theo địa chỉ..., dạy nghề gắn với giải quyết việc làm; dạy nghề theo hình thức vừa học vừa làm, dạy nghề lưu động tại các huyện, xã, dạy nghề cho lao động nông thôn, vùng cao, vùng xa. 
Hiện nay các trường trên địa bàn tỉnh đang đào tạo 93 ngành với quy mô 4832 học sinh, sinh viên (tăng 1358 so với năm 2005), số liệu cụ thể như sau: 

Stt

Trường

Các chuyên ngành đào tạo

Tổng số ngành đào tạo

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

1

CĐ Sư phạm

27

3

0

30

2

CĐ Y tế

1

5

2

9

3

TC Kinh tế - KT

0

12

0

12

4

TC VH-NT

0

13

0

13

5

TC nghề Việt Đức

0

16

13

29

 

Cộng

28

49

15

93

 

Học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động ở một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Gần 90% học sinh tốt nghiệp có kiến thức chuyên môn nghề và có kỹ năng thực hành nghề từ trung bình trở lên, trong đó khá và giỏi chiếm 27,38%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung bình hàng năm đạt trên 92%. 
Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề đã góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 23 % năm 2005 lên 32% năm 2010 trong tổng số lao động toàn tỉnh.
Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận học sinh, sinh viên đã tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm, hoặc trình độ chuyên môn, tay nghề vẫn còn hạn chế, các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao chưa đáp ứng được. 
Công tác tuyển sinh được thực hiện theo đúng quy chế. Qui mô tuyển sinh hàng năm của các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2010 (Đơn vị tính: Người) như sau: 

TT

 

Hệ đào tạo

2005-2006

2006-2007

2007-2008

2008-2009

2009-2010

Cộng

2005-2010

1

Trung cấp

270

662

567

941

913

3353

2

Cao đẳng

1387

1420

1580

1396

1495

7278

 

Cộng

1657

2082

2147

2337

2408

10631


- Quy mô đào tạo tăng nhanh, nhất là học sinh học nghề, kéo theo số lượng cơ sở dạy nghề phát triển. Tổng số học sinh sinh viên vào học tại các trường cao đẳng, dạy nghề của tỉnh tăng từ 3474 học sinh sinh viên năm 2005 lên 4832 học sinh, sinh viên năm 2010, cụ thể số lượng học sinh, sinh viên theo học các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005 - 2010 (đơn vị: Người) như sau:
 

TT

 

Hệ đào tạo

2005-2006

2006-2007

2007-2008

2008-2009

2009-2010

Cộng

2005-2010

1

Trung cấp

270

662

567

941

913

3353

2

Cao đẳng

1387

1420

1580

1396

1495

7278

 

Cộng

1657

2082

2147

2337

2408

10631


Quy mô đào tạo tăng nhanh, nhất là học sinh học nghề, kéo theo số lượng cơ sở dạy nghề phát triển. Tổng số học sinh sinh viên vào học tại các trường cao đẳng, dạy nghề của tỉnh tăng từ 3474 học sinh sinh viên năm 2005 lên 4832 học sinh, sinh viên năm 2010, cụ thể số lượng học sinh, sinh viên theo học các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005 - 2010 (đơn vị: Người) như sau:

TT

Hệ

đào tạo

2005-2006

2006-2007

2007-2008

2008-2009

2009-2010

Cộng

2005-2010

1

Trung cấp

971

1255

948

1550

2040

6764

2

Cao đẳng

2503

2863

3143

2994

2792

14295

 

Cộng

3474

4118

4091

4544

4832

21059


Hàng năm số học sinh lớp 12 các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh trúng tuyển đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp như sau: 

TT

 Năm Tiêu chí

2005-2006

2006-2007

2007-2008

2008-2009

2009-2010

Giai đoạn

2005-2010

Số lượng

Tỷ lệ

1

 Dự thi TN  12

11101

11633

12983

10354

10409

57480

100

2

Số trúng tuyển

2166

3516

4453

5022

5090

20247

35.22

 

- Ngoài tỉnh

509

1434

2306

2685

2682

9616

16.73

 

- Trong tỉnh

1657

2082

2147

2337

2408

10631

18.50


Qua bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ học sinh sau khi dự thi tốt nghiệp lớp 12 trúng tuyển vào học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm 35,22%, trong đó trúng tuyển vào các trường ngoài tỉnh là 16,73% và các trường cao đẳng, trung cấp của tỉnh là 18,50%. 
Như vậy các trường cao đẳng, trung cấp của tỉnh đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cho tỉnh chiếm gần 20% số học sinh tốt nghiệp phổ thông hàng năm. Đặc biệt còn khoảng trên 60% số học sinh không dự thi hoặc không thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp mà đi học nghề hoặc tham gia lao động phổ thông, đây cũng là nguồn nhân lực dồi dào để các trường tiếp tục có những giải pháp phù hợp để thu hút các đối tượng trên trong giai đoạn tới. 
Ngoài việc tuyển sinh và đào tạo các hệ chính quy như đã trình bày ở trên các trường còn chủ động tích cực trong công tác liên kết với các trường đại học, học viện để mở các lớp đại học vừa làm vừa học, đại học liên thông. Hàng năm trung bình mở được 8 - 10 lớp với khoảng 700 – 800 học viên. 
Hình thức đào tạo liên kết góp phần đào tạo nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực của tỉnh, đặc biệt là các cán bộ công chức, viên chức trong hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể của tỉnh. Bên cạnh đó việc đào tạo liên kết còn giúp giáo viên các trường có điều kiện tiếp cận, giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong xây dựng chương trình, đào tạo, giảng dạy ở các trình độ cao hơn. 
4.3. Công tác nghiên cứu khoa học 
Công tác nghiên cứu khoa học được các nhà trường quan tâm, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện trong cán bộ, giáo viên và ngày càng có chất lượng. Một số đề tài nghiên cứu khoa học của các trường được ứng dụng vào thực tế, có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao chất lượng dạy và học cũng như quản lý của cơ sở. Số lượng học sinh, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học tăng dần từng năm và chất lượng ngày càng được nâng lên. 
Kết quả nghiên cứu trong 5 năm từ 2006 đến 2010 có 04 đề tài nghiên cứu cấp tỉnh; 630 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở; có 64 bài được đăng trên các tạp chí. 
Tuy nhiên công tác nghiên cứu khoa học hầu như chỉ tập trung ở 2 trường cao đẳng; các trường trung cấp chưa quan tâm đến công tác này. Mặt khác, năng lực nghiên cứu của cán bộ giảng viên còn hạn chế chưa đồng đều; Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng vào thực tiễn chưa được nhiều. Bài báo, nghiên cứu được đăng trên các tạp chí khoa học trong nước và số lượng còn chiếm tỷ lệ nhỏ so với số lượng cán bộ giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học. Phần lớn các nghiên cứu được đăng trên các tập san và kỷ yếu của các nhà trường. 
4.4. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục 
- Cán bộ quản lý giáo dục của các nhà trường: 

Stt

Trường

Số lượng

(cấp trường)

Trình độ chuyên môn

Ghi chú

TS

Th.S

ĐH

 

CĐ Sư phạm

3

0

3

0

 

 

CĐ Y tế

3

0

3

0

 

 

TC KT-KT

3

0

2

1

 

 

TC VH-NT

2

0

1

1

 

 

TC nghề Việt Đức

2

0

0

2

 

 

Cộng:

13

0

9

4

 


Cán bộ quản lý của các nhà trường về cơ bản đảm bảo về số lượng, có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục, đã và đang chỉ đạo các trường hoạt động có hiệu quả. 
- Đội ngũ giảng viên, giáo viên cơ hữu của các trường: 

Stt

Trường

Tổng số

Trình độ chuyên môn

Ghi chú

TS

Th.S

ĐH

khác

1

CĐ Sư phạm

138

0

53

83

2

0

Đang NCS: 6, học thạc sĩ: 7

2

CĐ Y tế

56

0

15

28

8

5

Đang học Thạc sĩ: 2

3

TCKT-KT

33

0

6

27

0

0

Đang học Thạc sĩ: 7

4

TCVHNT

22

0

1

18

3

0

Đang học Thạc sĩ: 2

5

TC nghề

54

0

2

31

7

14

Đang học Thạc sĩ: 3

 

Cộng

303

0

77

187

20

19

 


Đội ngũ nhà giáo của các đơn vị cơ bản đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, nhiều cán bộ, giáo viên được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; hầu hết có phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề nghiệp, có ý thức vươn lên, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo.Đội ngũ nhà giáo các trường chuyên nghiệp được bồi dưỡng năng lực sư phạm, tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin, học thêm ngoại ngữ và phấn đấu đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo. 
Tuy nhiên một số trường còn thiếu giáo viên so với nhu cầu (trường Cao đẳng Y tế), số giáo viên có trình độ thạc sĩ chưa cao; các trường chưa có giảng viên là tiến sĩ. Một bộ phận giáo viên còn hạn chế trong việc cập nhật kiến thức và phương pháp giáo dục nên chưa phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh, sinh viên và chưa tạo được sự hứng thú cho người học. Trình độ ngoại ngữ của đại bộ phận giáo viên còn yếu, không sử dụng được trong giao tiếp và tham khảo tài liệu bằng tiếng nước ngoài. 
4.5. Về cơ sở vật chất và trang thiết bị 
100% các trường có phòng học kiên cố. Thư viện, ký túc xá, nơi làm việc của giáo viên đều có sự cải thiện. Giảng đường và các lớp học được xây dựng thêm. Phòng thí nghiệm, thực hành được đầu tư và xây dựng phục vụ cho công tác đào tạo. Cơ sở vật chất của các trường bước đầu đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. 
Tuy nhiên diện tích, khuôn viên của các trường đều chưa đảm bảo so với quy định nên hạn chế trong việc xây dựng, bố trí phòng học, nhà làm việc, khu ký túc xá, khu tập luyện thể thao, vui chơi giải trí cho sinh viên; một số trường chưa có phòng học dành riêng cho các môn đặc như như âm nhạc, Mỹ thuật; chưa có khu cây xanh, vườn thực hành, xưởng trường. 
5. Công tác giáo dục dân tộc 
- Công tác giáo dục vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiếu số tiếp tục được quan tâm, tập trung ưu tiên các nguồn lực nhằm thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dạy và học như: tăng cường cán bộ quản lý giỏi, giáo viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao và nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy giúp các trường nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. 
- Tiếp tục các giải pháp chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1, dạy học theo hướng tăng thời lượng môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số;
- Công tác giáo dục dân tộc đã được quan tâm, hàng năm (từ năm 2005 đến nay), mỗi năm Lạng Sơn được giao trên 250 chỉ tiêu cử tuyển đại học, cao đẳng ở nhiều ngành nghề. Ngoài chế độ cử tuyển, hàng năm Lạng Sơn tổ chức ký hợp đồng với các trường đại học trong nước có uy tín đào tạo cán bộ có trình độ đại học (đào tạo theo địa chỉ) cho ngành sư phạm, ngành Y đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. 
Số sinh viên tốt nghiệp đào tạo hệ cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ được bố trí công tác phù hợp với chuyên môn đào tạo. Nhiều người đã phát huy được chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng được công việc. 
Để tạo nguồn tuyển sinh, đào tạo cán bộ cho các địa phương, Lạng Sơn đã xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tại 10 huyện và 01 trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh. Đồng thời triển khai xây dựng mạng lưới các trường phổ thông dân tộc bán trú ở vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số. 
- Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú để đảm bảo tốt việc nuôi, dạy, chăm sóc và giáo dục toàn diện, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng. Tổ chức rà soát, điều chỉnh phân phối chương trình chi tiết các môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp và chỉ đạo các trường DTNT chủ động xây dựng kế hoạch dạy học tự chọn đảm bảo thực hiện có hiệu quả chương trình chung, đảm bảo dạy học hai buổi/ngày, tạo điều kiện cho các trường Dân tộc nội trú chủ động bố trí dạy học tự chọn phù hợp với đặc điểm tình hình của đơn vị. Tất cả các trường PTDTNT trong tỉnh đều tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
- Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh nội trú, bán trú được trú trọng. Mô hình nội trú, bán trú dân nuôi tiếp tục được nhân rộng nhằm duy trì sỹ số, nâng cao kết quả học tập, phục vụ hiệu quả công tác phổ cập. Khảo sát số lượng trẻ em mầm non, học sinh tiểu học, trung học cơ sở có kế hoạch xây dựng mô hình trường nội trú, bán trú dân nuôi, thực hiện mục tiêu phổ cập mẫu giáo cho trẻ em 5 tuổi; nâng cao phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng cao chất lượng dạy và học. Năm học 2009 - 2010, trên địa bàn tỉnh có 70 trường thực hiện theo mô hình bán trú dân nuôi với tổng số học sinh bán trú là 5692 ở cả cấp tiểu học và THCS, trong đó học sinh dân tộc thiểu số là 5470 học sinh. Mô hình Bán trú dân nuôi đã góp phần nâng cao tỷ lệ huy động trẻ đến trường, phục vụ tốt công tác phổ cập giáo dục, góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục. 
- Chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện. Học sinh các trường dân tộc nội trú có phẩm chất đạo đức tốt, giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc, tiếp thu các nét đẹp văn hóa, tiên tiến thông qua các hoạt động của nhà trường. 
- Thực hiện đúng, đủ chế độ, chính sách đối với học sinh dân tộc thiểu số và học sinh ở địa bàn đặc biệt khó khăn. Sở chỉ đạo các đơn vị đảm bảo thực hiện đúng, đủ các chế độ đối với học sinh, giáo viên các trường DTNT, các trường vùng khó khăn, cấp phát kinh phí, tài liệu, sách báo miễn phí cho các trường. Các đơn vị đã có hỗ trợ cho học sinh vùng đặc biệt khó khăn bằng các nội dung, hoạt động thiết thực. 
6. Về công tác phổ cập giáo dục, xây dựng trường chuẩn quốc gia 
6.1. Công tác phổ cập giáo dục 
Tỉnh Lạng Sơn đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học – Chống mù chữ năm 1997 và được duy trì, giữ vững ở 100% xã, phường, thị trấn; đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi tháng 12/2008, đến nay đã có 70/226 (30,97%) đạt chuẩn phổ cập mức độ 2; đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở tháng 12/2006 và đến nay đã222/226 (98,23%) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn. 
6.2. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia 
Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được quan tâm, đẩy mạnh và có nhiều chuyển biến tích cực ở các cấp học, bậc học. Đến nay toàn tỉnh có 84/650 (12,92%) trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 (01 trường ở mức độ 2), bao gồm:11/139 (7,91%) trường mầm non; 46/246 (18,62%) trường tiểu học; 26/226 (11,5%) trường trung học cơ sở và 01/25 (4%) trường trung học phổ thông. Có 127/270 (47%) trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu. 
7. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
Thực hiện chủ trương đưa tin học vào trong nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo đã được đầu tư cơ sở vật chất về công nghệ thông tin để triển khai công tác đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý giáo dục.
100% cơ sở giáo dục có ít nhất từ 1 đến 2 máy vi tính phục vụ công tác quản lý.
Các trường trung học phổ thông, trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và nhiều trường trung học cơ sở đã đưa chương trình đào tạo tin học vào nhà trường và đã ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức dạy và học có hiệu quả. Trên 80% trường trung học cơ sở và 100% trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trường cao đẳng đã nối mạng Internet. Cấp trung học cơ sở có 91 phòng máy vi tính (1259 máy); cấp trung học phổ thông có 50 phòng/25 đơn vị với 1142 máy tính để tổ chức dạy cho học sinh và cán bộ, giáo viên của đơn vị. 
8. Cơ sở vật chất, trang thiết bị 
- Toàn tỉnh đã có 595/650 trường được cấp đất, có trụ sở, địa điểm làm việc độc lập, tuy nhiên còn 55 trường đã được thành lập nhưng chưa có địa điểm riêng. 
- Công tác kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 theo Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ đã đạt mục tiêu và đúng tiến độ. Từ năm 2008 đến 2010, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai thực hiện đước 1166 phòng học, 653 phòng công vụ với tổng mức đầu tư là 485,162 tỷ VNĐ. Tuy nhiên nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đã bố trí 302,480 tỷ, số kinh phí còn thiếu 182,682 tỷ VNĐ. Số phòng học và phong công vụ chưa được triển khai thực hiện so với đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 của tỉnh là 1287 phòng học và 986 phòng công vụ (do không có vốn để triển khai tiếp) 
Cơ sở vật chất trường học trong những năm vừa qua được đầu tư kiên cố hóa với số lượng lớn, toàn tỉnh có 7279 phòng học ở các cấp học, trong đó phòng học kiên cố 4158(57,12 %), 1311 (18,01%) phòng học bán kiên cố; 1193 (16,39%) phòng học tạm và 617 (8,48%) phòng học mượn. 
Năm học 2010 - 2011 có 728 phòng chuyên môn, thư viện (402 phòng kiên cố, 231phòng bán kiên cố; 95 phòng tạm); có 1024 phòng làm việc (672 phòng kiên cố, 220phòng bán kiên cố và còn 132 phòng tạm).
- Về thiết bị dạy học: Thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, các trường được cấp đủ các bộ thiết bị dạy học theo quy định đối với mỗi cấp học, tuy nhiên các thiết bị dạy học được trang bị lâu ngày, không được trang bị bổ sung, đồng thời công tác bảo quản, sửa chữa không tốt, nên đã xuống cấp, hư hỏng cần tiếp tục được đầu tư, bổ sung. 
- Thư viện trường học: tất cả các trường học đều có phòng thư viện hoặc tủ sách. Ngoài những đầu sách được trang bị phục vụ cho công tác chuyên môn, các nhà trường còn vận động cán bộ, giáo viên, học sinh sưu tầm, bổ sung những sách quý, sách chuyên ngành cho việc tham khảo, nâng cao kiến thức cho đội ngũ. Tuy nhiên hoạt động của thư viên các trường học chưa đạt hiệu quả như mong muốn. 
- Hệ thống trường Phổ thông dân tộc nội trú được đầu tư xây dựng và nâng cấp, tạo điều kiện cho học sinh thuộc diện chính sách được học tập, sinh hoạt một cách tốt nhất, nhằm tạo nguồn cán bộ cho các địa phương, cho tỉnh. Có 5/11 trường Phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn quốc gia (4 trung học cơ sở và 1 trung học phổ thông). 
9. Công tác quản lý 
Công tác quản lý, chỉ đạo được tăng cường, luôn có sự đổi mới cải tiến và nâng cao hiệu quả trong từng hoạt động của giáo dục. 
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương chính sách đầu tư cho giáo dục như: Chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất trường học; Chế độ đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân tài: Chính sách hỗ trợ xây dựng trường chuyên, trường Phổ thông dân tộc nội trú, trường chuẩn quốc gia, xây dựng kiên cố hoá trường, lớp học, nhà công vụ giáo viên; xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng ; xây dựng chương trình đưa tin học vào nhà trường được triển khai thực hiện, kịp thời và có hiệu quả cao. 
Một số nội dung chủ yếu luôn được quan tâm và chỉ đạo: 
+ Công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch luôn được quan tâm đổi mới để sát với thực tiễn, đảm bảo tính khả thi. 
+ Công tác thanh tra, kiểm tra tiến hành thường xuyên có tác dụng tích cực trong việc duy trì kỷ cương, nề nếp dạy và học, trong thi cử, tuyển sinh, trong bình xét đánh giá phân loại và bình xét thi đua, tạo động lực tốt cho việc chấp hành và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn. 
+ Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông. 
+ Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ. 
+ Tổ chức các hội thảo xác định nguyên nhân và có giải pháp tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục có hiệu quả; điều động giáo viên khá, giỏi khu vực thuận lợi đến công tác biệt phái tại các trường thuộc khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn. 
+ Thực hiện từng bước việc phân cấp quản lý cho các cơ sở giáo dục và đào tạo. Sự phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp luôn chặt chẽ phát huy hiệu quả trong công tác tham mưu, chỉ đạo để thực hiện các mục tiêu, chương trình giáo dục – đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 
+ Cụ thể hóa các tiêu chí thi đua theo quy định của Nhà nước; mục tiêu nhiệm vụ của ngành và các phong trào thi đua với nhiều hình thức phong phú được các đơn vị trường học hưởng ứng tổ chức thực hiện. 
10. Xã hội hoá giáo dục và hợp tác quốc tế 
- Về công tác xã hội hóa giáo dục Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và các Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, những năm qua công tác xã hội hóa giáo dục của tỉnh đã đạt được những kết quả: 
+ Thành lập Hội khuyến học tỉnh, huyện, xã đến các thôn, xóm, dòng họ. Hội đồng giáo dục, Hội khuyến học hoạt động tích cực và bước đầu có hiệu quả. 
+ Xã hội hoá giáo dục đã thúc đẩy phong trào học tập, phong trào xây dựng cơ sở vật chất trường học và bước đầu đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho phát triển giáo dục. 
+ Quy mô giáo dục và đào tạo được phát triển mạnh theo hướng đa dạng hóa các loại hình trường, lớp; các hình thức học tập đã phát triển đồng đều ở các ngành học, cấp học và ở các địa bàn phù hợp với nhu cầu, khả năng Kinh tế - Xã hội của địa phương. Tỷ lệ học sinh ngoài công lập ở nhà trẻ, mẫu giáo ở khu vực thành phố tiếp tục được ổn định và tăng dần. 
Thông qua việc hình thành và phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập đã đáp ứng được một phần đáng kể nhu cầu học tập của con em nhân dân và đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giảm một phần áp lực đối với các cơ sở giáo dục công lập. Các trường ngoài công lập đã góp phần giải quyết mâu thuẫn về khả năng tài chính, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trong sự nghiệp phát triển giáo dục của tỉnh.
Trong những năm qua, ngân sách chi cho giáo dục luôn được quan tâm năm sau cao hơn năm trước; dự toán được giao ngay từ đầu năm các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng kịp thời các hoạt động. 
Tuy nhiên dự toán được giao theo giai đoạn ổn định 2006 - 2010 với định mức tiền lương tối thiểu 350.000 đồng để tính tỷ lệ chi khác, trong khi đó thị trường biến động tương đối lớn về giá, gây không ít khó khăn cho chi hoạt động. 
Việc huy động các nguồn lực để đầu tư cho giáo dục chủ yếu là từ phụ huynh học sinh, các tổ chức kinh tế có tiềm lực trên địa bàn còn ít, do đó công tác xã hội hóa trong những năm qua đã có nhiều cố gắng nhưng chưa được nhiều, chủ yếu vẫn từ nguồn ngân sách nhà nước cấp, cụ thể nguồn ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo từ năm 2006 đến 2010 như sau: 

Đơn vị tính: Triệu đồng 

Nội dung

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Cộng

Chi đầu tư phát triển

51.701

71.646

141.176

210.621

288.980

764.124

Chi thường xuyên

436.340

538.706

784.106

804.921

1.169.538

3.733.611

Cộng

488.041

610.352

925.282

1.015.542

1.458.518

4.497.735


- Về công tác hợp tác quốc tế Các trường cao đẳng, dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cố gắng trong hợp tác quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh, tuy nhiên mức độ, lĩnh vực hợp tác còn có giới hạn và chủ yếu ở các trường chuyên nghiệp, dạy nghề: Trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng Y tế và Trung cấp nghề Việt – Đức.
Trường Cao đẳng Sư phạm đã ký kết hợp tác giáo dục với Học viện Sư phạm Quảng Tây và trường Đại học Ngoại ngữ Đông Nam Á, Bằng Tường - Quảng Tây – Trung Quốc trong việc đưa sinh viên chuyên ngành tiếng Trung Quốc sang thực tập, trong những năm tiếp theo, nhà trường tiếp tục đào tạo sinh viên tiếng Trung Quốc theo phương thức 2+1 (hai năm học tại Trường Cao đẳng sư phạm, một năm học tại Trung Quốc).
Trường Cao đẳng Y tế đã tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm và đặt mối quan hệ hợp tác với Học viện Trung Y Quảng Tây Trung Quốc. 
Trường Trung cấp nghề Việt Đức đã sử dụng hiệu quả dự án đầu tư thiết bị cho trường từ nguồn vốn ODA do Cộng hòa liên bang Đức hỗ trợ, ký dự án hợp tác với tổ chức DED của Đức để đưa chuyên gia dài hạn đến giúp trường đồng thời tổ chức đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và cán bộ quản lý. 
Hầu hết các trường phổ thông chưa quan tâm đúng mức đến hợp tác quốc tế, chỉ có một số ít các trường trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng tổ chức giao lưu, tham quan, học hỏi kinh nghiệm quản lý, tổ chức giáo dục và đào tạo ở một số nước trong khu vực (Trung Quốc; Singapore...). 
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHẢT TRIỂN GIÁO DỤC TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN2001 - 2010 
1. Những ưu điểm 
Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp, giúp đỡ của các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể của Trung ương và địa phương, sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc, Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn có bước chuyển biến tiến bộ, quy mô được mở rộng, chất lượng được nâng lên, các chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai đạt kết quả tốt. Số trường học tăng thêm 252 so với năm 2001. 
Tỷ lệ huy động trẻ đến trường, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học và trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp năm sau cao hơn năm trước, số học sinh giỏi tăng rõ rệt; đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục giáo dục THCS năm 2006, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2008. Chất lượng giáo dục các cấp học nói chung của tỉnh Lạng Sơn từ vị trí gần cuối bảng của toàn quốc vào những năm 1995 - 2000 đã đạt mức trung bình so với cả nước và ở mức khá so với các tỉnh khu vực Đông Bắc. 
Các cuộc vận động, phong trào thi đua lớn trong ngành được triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, tạo được sự đồng tình cao trong xã hội. Đội ngũ cán bộ, giáo viên từng bước được chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng được yêu cầu về số lượng cũng như chất lượng. 
Cơ sở vật chất trường, lớp học được tăng cường, cơ bản xóa xong phòng học tre nứa, lá; số phòng học được đầu tư kiên cố là 3986, đạt 58,84% (tăng 3158 phòng so với năm 2001); có 1895 phòng học bán kiên cố (27,97%). Đã có 84 trường chuẩn quốc gia ( tăng 82 trường so với nắm 2000). 
2. Những hạn chế 
- Chất lượng giáo dục, đào tạo ở khu vực nông thôn, vùng cao, biên giới còn nhiều hạn chế, việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên chưa được quan tâm đúng mức. Chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học trong nhà trường hiệu quả chưa cao. 
- Hệ thống, mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo chưa được quy hoạch đồng bộ và xây dựng hoàn chỉnh, nhất là hệ thống giáo dục mầm non. - Năng lực quản lý và nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ quản lý ở hầu hết các cấp còn hạn chế, chưa được chuẩn. 
- Trung tâm học tập cộng đồng chưa có trụ sở làm việc riêng, chưa có cán bộ chuyên trách. 
Phần thứ ba 
NỘI DUNG QUY HOẠCH I. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC 
1. Những thuận lợi 
- Công tác giáo dục và đào tạo của tỉnh được sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp giúp đỡ của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội và sự đồng tỉnh ủng hộ, giúp đỡ, chăm lo của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. 
- Quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa tỉnh ngày càng phát triển rộng khắp đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng chuẩn hóa, quản lý chất lượng được chú trọng, phân cấp quản lý giáo dục được đẩy mạnh. 
- Chất lượng giáo dục ở các cấp học có tiến bộ. Công nghệ thông tin được ứng dụng trong công tác quản lý, dạy và học đạt hiệu quả ngày càng cao. 
- Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục ngày càng tăng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục ngày càng được đầu tư, trang bị đảm bảo cho công tác dạy và học. 
2. Những khó khăn thách thức 
- Lạng Sơn là một tỉnh còn nghèo, xuất phát điểm thấp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. 
- Cơ cấu đội ngũ lao động qua đào tạo chưa hợp lý, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Nhu cầu nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng với cơ cấu hợp lý tạo nên sức ép rất lớn đối với giáo dục. 
- Trình độ dân trí không đồng đều, còn nhiều hạn chế. Nhận thức của nhân dân về giáo dục chưa được đầy đủ. 
- Một số cán bộ, giáo viên còn hạn chế về trình độ, năng lực; không đáp ứng được yêu cầu đổi mới của giáo dục và đào tạo; thiếu tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp. 
- Sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày càng rõ rệt. Điều này có thể tăng thêm tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền và giữa các đối tượng người học. 
- Địa hình đồi núi, thiếu đất xây dựng trường, lớp học. 
- Toàn tỉnh còn 68 xã đặc biệt khó khăn, địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt ảnh hưởng tới việc phát triển trường lớp và công tác phổ cập giáo dục.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 
- Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, triệt để đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục. Nâng cao vai trò các đoàn thể nhân dân, tổ chức kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục. Khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. 
- Phát triển giáo dục là nền tảng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực quan trọng để hoàn thành cơ bản sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là nhân tố quyết định phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, hài hòa và bền vững. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. 
- Có cơ chế, chính sách giúp đỡ người dân tộc thiểu số, con em diện chính sách, người nghèo học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng. 
- Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống và ý thức chấp hành pháp luật; coi trọng cả ba mặt giáo dục: dạy người, dạy chữ, dạy nghề; nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học; phát triển năng lực, có kỹ năng thực hành, năng động, sáng tạo. 
- Phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu xã hội và nhu cầu người học, đồng thời phải thỏa mãn nhu cầu học tập và phát triển của mỗi người dân. Coi trọng nâng cao chất lượng. Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, đào tạo gắn với sử dụng. 
- Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh, đồng thời phải thỏa mãn nhu cầu học tập và phát triển của mỗi người dân. Coi trọng nâng cao chất lượng, đảm bảo hợp lý về cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền, quy mô giáo dục đại trà và mũi nhọn. Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội để giáo dục, rèn luyện học sinh; đào tạo gắn với sử dụng. 
III. MỤC TIÊU 
1. Mục tiêu tổng quát 
- Quy hoạch tổng thể hệ thống, mạng lưới các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh và những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển. Gắn công tác quy hoạch phát triển giáo dục với các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và quy hoạch phát triển nhân lực, công tác dự báo nhu cầu nhân lực qua đào tạo của tỉnh giai đoạn 2010 - 2020. 
- Đổi mới căn bản giáo dục của tỉnh theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, từng bước hội nhập khu vực, quốc tế. Tập trung đổi mới công tác quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, gắn giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, khu vực và cả nước; tăng cường năng lực ngoại ngữ và công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên. Tập trung giáo dục mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống cách mạng của Đảng, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào về quê hương, đất nước cho học sinh, góp phần phát triển nguồn nhân lực của tỉnh có chất lượng đáp ứng nhu cầu xã hội. 
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tâm huyết, tận tụy, có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. 
- Đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia và công tác xã hội hóa giáo dục. 
- Phát triển quy mô giáo dục hợp lý, chú trọng giáo dục vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân. 
- Phấn đấu ngay trong giai đoạn 2011-2015, các chỉ số về giáo dục tỉnh Lạng Sơn đạt mức khá của toàn quốc. 
2. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể giai đoạn ( 2011 - 2015 ) 
2.1. Quy mô phát triển và mạng lưới trường lớp 
Củng cố, xây dựng đồng bộ hệ thống trường lớp thuộc giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông hiện có, tăng cường phát triển trường mầm non nông thôn, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; 
Chuyển đổi một số trường tiểu học, trường trung học cơ sở ở vùng đặc biệt khó khăn, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số sang loại hình trường Phổ thông dân tộc bán trú. Chuyển một số trường mầm non khu vực thuận lợi sang thực hiện cơ chế tự chủ về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ. Khuyến khích thành lậptrường ngoài công lập, cụ thể: 
Đến năm 2015, toàn tỉnh có 746 trường (tăng 96 so với năm học 2010-2001).
Thành lập mới 84 trường Mầm non, nâng tổng số 223 trường; 
Thành lập mới 5 trường Tiểu học, nâng tổng số 251 trường; 
Thành lập mới 4 trường Trung học cơ sở, nâng tổng số 206 trường;
Thành lập mới 5 trường Trung học phổ thông, nâng tổng số 30 trường; 
Thành lập mới 01 Trung tâm Tin học – Ngoại ngữ; 
Thành lập trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật trên cơ sở trường Trung cấp kinh tế - kỹ thuật); 
Thành lập 33 trường phổ thông dân tộc bán trú (15 trường tiểu học và 18 trường trung học cơ sở) trên cơ sở các trường học hiện có sang trường chuyên biệt; 
Trên địa bàn tỉnh còn 21 trường phổ thông có nhiều cấp học (Phổ thông cơ sở); 12Trung tâm giáo dục thường xuyên và Trung tâm hướng nghiệp; 01 trường cao đẳng sư phạm trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo. Củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển trường THPT chuyên Chu Văn An và các trường THPT: Đồng Đăng, Cao Lộc, Việt Bắc, Dân tộc nội trú tỉnh, Chi Lăng, Hữu Lũng.... theo hướng tiên tiến đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế cửa khầu, khu công nghiệp để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mở rộng quy mô trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn thành trường cao đẳng đa ngành, tiếp tục chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập trường đại học Lạng Sơn. 
2.2. Quy mô phát triển và chất lượng giáo dục 
2.2.1. Giáo dục Mầm non 
- Huy động: Trên 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ, trên 98% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo ra lớp; trên 99,5% trẻ em mẫu giáo 5 tuổi ra lớp. 
- 100% nhóm, lớp thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới, chuẩn bị tâm thế, tiếng Việt cho trẻ em trước khi vào lớp 1; trên 60% trường tiếp cận với tin học, ngoại ngữ. 
- Tăng tỷ lệ trẻ em kênh A về chiều cao, cân nặng tại các cơ sở giáo dục mầm non đạt trên 90%; 
2.2.2. Giáo dục phổ thông
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở các bậc học; tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi và giảm tỷ lệ học sinh yếu, kém; tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, cụ thể:
- Cấp Tiểu học: Huy động trên 99,7% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; trên 95% trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập; 80% học sinh tiểu học (từ lớp 3 trở lên) được học ngoại ngữ; trên70% học sinh được học 2 buổi/ngày. Trên 35% học lực giỏi môn tiếng Việt; trên 45% học lực giỏi môn toán và trên 28 % học lực giỏi văn hóa; trên 99% hạnh kiểm thực hiện đầy đủ; trên 70% trường đạt mức chất lượng tối thiểu. 
- Cấp Trung học cơ sở: Huy động trên 99% học sinh hoàn thành bậc tiểu học vào lớp 6; 100% học sinh được học giáo dục hướng nghiệp và tin học. Trên 10% học sinh xếp loại học lực giỏi; trên 35% học sinh xếp loại khá, giảm tỷ lệ học sinh có học lực yếu xuống dưới 4%; trên 95% học sinh được xếp loại hạnh kiểm khá, tốt; số học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu dưới 0,1%. 
- Trung học phổ thông: Thu hút trên 80% học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 THPT; 100% học sinh THPT được giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề. Trên 3% học lực giỏi; trên 30% học lực khá, số học sinh yếu giảm xuống dưới 6%; có trên 95% học sinh xếp loại hạnh kiểm khá, tốt; trên 12% học sinh tốt nghiệp THPT loại khá, giỏi; trên 30% học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng; trên 50% học sinh dự thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia, khu vực đạt giải. 
Triển khai chương trình mới đào tạo ngoại ngữ bắt buộc ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ như sau: Tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc I, tốt nghiệp trung học cơ sở đạt trình độ bậc II và tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc III theo tiêu chuẩn khảo thí của Châu Âu. 
Đối với trường Trung học phổ thông chuyên, phấn đấu đến hết năm 2015 đạt các chỉ số: có 2% tổng số học sinh Ttrung học phổ thông của tỉnh; 40% cán bộ, giáo viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; 50 % học sinh có học lực giỏi ; 70% học sinh giỏi tin học. 
2.2.3. Giáo dục thường xuyên 
- Huy động 60% số trẻ dưới 15 tuổi bỏ học, không có điều kiện theo học trong các trường phổ thông và 50% số người mù chữ độ tuổi 15-35 tham gia các chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; trên 50% số đối tượng dưới 18 tuổi bỏ học trung học cơ sở tham gia chương trình bổ túc trung học cơ sở góp phần củng cố vững chắc các tiêu chuẩn phổ cập. 
- Các trung tâm học tập cộng đồng mỗi năm tổ chức bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho trên 200 ngàn lượt người lao động với 15 - 20 chuyên đề. 
- Trung tâm Giáo dục thường xuyên thu hút từ 10 đến 15% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông; Tổ chức tốt việc học văn hóa gắn với học nghề cho học sinh Giáo dục thường xuyên, phấn đấu khi ra trường học sinh nắm vững về kiến thức, tay nghề, tạo điều kiện để học sinh vừa có thể học lên, vừa có một nghề cơ bản đi vào cuộc sống; có đủ phẩm chất đạo đức và kiến thức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.2.4. Giáo dục chuyên nghiệp 
Công tác giáo dục chuyên nghiệp được thực hiện theo chương trình “Củng cố, đổi mới phát triển các trường cao đẳng và dạy nghề của tỉnh giai đoạn 2010-2020”. 
Chuẩn bị các điều kiện để tiến tới thành lập trường đại học Lạng Sơn trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm thành trường đại học đa ngành. Trình cấp có thẩm quyền đưa đại học Lạng sơn vào danh sách được phê duyệt trong quy hoạch hệ thống các trường đại học, cao đẳng học giai đoạn 2015 - 2020. 
Nâng cấp trường Trung cấp Nghề Việt – Đức thành trường Cao đẳng Nghề vào năm 2013; trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật thành trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật vào năm 2015. Mở rộng qui mô và tăng ngành nghề đào tạo có trình độ cao đẳng tại trường Cao đẳng chuyên nghiệp và dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo giáo viên và lực lượng lao động kỹ thuật có trình độ cao cho tỉnh. 
Mở rộng hệ thống dạy nghề tại các huyện, trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến năm 2015, quy mô tuyển sinh đào tạo và đào tạo nghề của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khoảng 15000 người, trong đó: Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp: 3.400 người; Cao đẳng và trung cấp nghề: 1.600 người; Nghề dưới 12 tháng: 10.000 người. Mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học, cao đẳng; phấn đấu bình quân đạt 200 sinh viên /1 vạn dân vào năm 2015. 
2.3. Công tác phổ cập giáo dục, xây dựng trường chuẩn quốc gia 
2.3.1. Công tác phổ cập giáo dục 
- Đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015.
- Tiếp tục giữ vững và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học  – Chống mù chữ; kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở; có trên 50% đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; có trên83% thanh, thiếu niên trong độ tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.
2.3.2. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia 
Đến năm 2015, toàn tỉnh có khoảng 150 trường chuẩn quốc gia, tăng thêm 66 trường so với năm 2010, cụ thể: 41 trường mầm non (tăng 30), trong đó ít nhất có 10 trường thuộc khu vực đặc biệt khó khăn ; 59 trường tiểu học (tăng 13); 44 trường trung học cơ sở (tăng 18) và 06 trường THPT (tăng 5). Có trên 75% trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trong đó có trên 30% đạt mức độ 2.
2.4. Công tác giáo dục dân tộc 
- Tiếp tục thực hiện chế độ cử tuyển, chế độ đào tạo theo địa chỉ và mở rộng các lĩnh vực đào tạo ở nhiều ngành, nghề, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh có chất lượng.
- Mở rộng mạng lưới các trường phổ thông dân tộc bán trú, đẩy mạnh công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia ở khu vực đặc biệt khó khăn, khu vực có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Thành lập thêm (chuyển đổi loại hình) 33 trường phổ thông dân tộc bán trú, trong đó 15 trường tiểu học và 18 trường trung học cơ sở ; phấn đấu 100% trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia mức độ I; 7 trường phổ thông dân tộc bán trú đạt chuẩn quốc gia (05 trường tiểu học và 2 trường trung học cơ sở); xây dựng ít nhất 10 trường mầm non ở các xã khó khăn, vùng dân tộc thiểu số đạt chuẩn quốc gia. 
- Bổ sung các chính sách của tỉnh hỗ trợ giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh ở vùng dân tộc thiểu số, phát triển trường phổ thông dân tộc bán trú, đảm bảo học sinh có chỗ ở an toàn, đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở học tập. 
- Tiếp tục các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở cấp học mầm non, tiểu học và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. 
- Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục các trường trung học phổ thông ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: trung học phổ thông Pác Khuông, Hòa Bình, Vũ Lễ, Bình Độ, Vân Nham..... 
2.5. Công tác xã hội hoá giáo dục, hợp tác quốc tế 
- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, huy động mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục . 
- Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình - xã hội để giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh, đảm bảo an ninh - trật tự trường học. 
- Tranh thủ vốn viện trợ, vốn vay và mở rộng quan hệ quốc tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài cho giáo dục và đào tạo. 
- Liên kết với các nước trong khu vực để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và tiếp tục mở rộng giao lưu, học tập kinh nghiệm về quản lý, đào tạo, trao đổi sinh viên.
2.6. Các điều kiện thực hiện qui hoạch
2.6.1. Đối với cán bộ quản lý 
 Bố trí đủ số lượng, đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố và các phòng cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. 
100% cán bộ quản lý giáo dục các cấp học đạt chuẩn trình độ, chuẩn hiệu trưởng; có phẩm chất đạo đức, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, có năng lực chuyên môn tốt, lập trường tư tưởng vững vàng và kinh nghiệm quản lý, cụ thể: 
Trên 90% cán bộ được bồi dưỡng chương trình quản lý giáo dục theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với mỗi cấp học; 
Trên 50% cán bộ quản lý cấp Trung học phổ thông có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; trên45% cán bộ quản lý có trình độ thạc sĩ quản lý giáo dục. 
Trên 70% cán bộ quản lý cấp học Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở có trình độ trên chuẩn so với quy định chuẩn của cấp học, trong đó có trên 300 cán bộ quản lý có trình độ cử nhân quản lý giáo dục; 
Trên 90% cán bộ quản lý giáo dục mầm non và 100% cán bộ quản lý giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên có trình độ tin học A trở lên. 
Trên 70% cán bộ quản lý các trường chuyên nghiệp có trình độ thạc sĩ trở lên; có ngoại ngữ trình độ C trở lên và biết sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy và điều hành. 
2.6.2. Đối với giáo viên 
Đảm bảo bố trí đủ giáo viên các cấp học theo định mức quy định; đảm bảo đồng bộ về cơ cấu giáo viên các bộ môn. 
100% giáo viên các cấp học: Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Giáo dục thường xuyên, giáo viên các trường chuyên nghiệp đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục. Có trên 40% giáo viên mầm non; 80% giáo viên tiểu học đạt trên chuẩn về trình độ để tiến tới đạt chuẩn mới đối với cấp học; có trên 40% giáo viên trung học cơ sở và trên 10% giáo viên trung học phổ thông đạt trên chuẩn về trình độ. Trong đó chú trọng nhiều đến các trường khu vực trọng điểm, trường chuyên biệt. 100% giáo viên: mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên đạt chuẩn nghề nghiệp, trong đó có trên 70% giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở và giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá trở lên. 
100% giáo viên trường cao đẳng đạt chuẩn, trên 70% thạc sĩ, tiến sĩ. Đến năm 2015 toàn ngành có 15 tiến sĩ. 100% giáo viên có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có đạo đức phẩm chất tốt, nhiệt tình và trách nhiệm cao trước công việc được giao. 
Trên 60% giáo viên mầm non, 70% giáo viên Tiểu học, 80% giáo viên trung học cơ sở và trên 95% giáo viên trung học phổ thông có trình độ tin học A trở lên. 
100% giáo viên trường chuyên nghiệp có trình độ đạt chuẩn, trên 35% có trình độ thạc sĩ và tương đương. Xây dựng đội ngũ giáo viên thực hành có tay nghề cao cho các trường dạy nghề.
- Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên giỏi, giáo viên cốt cán tiếp tục được quan tâm đưa đi đào tạo trên chuẩn để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục trong thời gian trước mắt và lâu dài. 
- Tích cực chuẩn bị đội ngũ giảng viên các chuyên ngành sẽ đào tạo mở rộng (gửi đào tạo, tuyển giáo viên, liên kết đào tạo). Quan tâm đào tạo cán bộ giảng dạy có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ cho trường Cao đẳng sư phạm, trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật để chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập trường Đại học Lạng Sơn, nâng cấp trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật thành trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật. 
- Bố trí cán bộ chuyên trách cho các trung tâm học tập cộng đồng, đảm bảo mỗi trung tâm có 1-2 cán bộ cơ hữu làm công tác quản lý và điều phối các hoạt động của trung tâm. 
- Phấn đấu đến năm 2015 có 5% công chức, viên chức trong ngành có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên và có trên 70% trường mầm non, phổ thông có cán bộ phụ trách ứng dụng công nghệ thông tin có trình độ cao đẳng trở lên; có giáo viên nòng cốt về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các môn học. 
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, đúc rút sáng kiến kinh nghiệm trong các nhà trường. Xác định cho cán bộ giáo viên coi đây là trách nhiệm, nghĩa vụ tự học tập nâng cao trình độ của mỗi người. Đưa công tác nghiên cứu khoa học của các trường vào nề nếp, từng bước nâng cao chất lượng các sản phẩm khoa học. Chú trọng đến tính thực tiễn, khả năng ứng dụng của các đề tài. Phổ biến rộng rãi những đề tài được nghiệm thu, đạt chất lượng tốt. Khuyến khích và đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên các trường cao đẳng. 
Hàng năm mỗi trường chuyên nghiệp có ít nhất 01 đề tài nghiên cứu khoa học đăng ký cấp tỉnh; có ít nhất 05 bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành đối với trường cao đẳng, 02 bài đối với trường trung cấp. Trên 50% giảng viên trường cao đẳng và trên 20% giáo viên trường trung cấp có đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc sáng kiến cải tiến kỹ thuật. 
2.6.3. Cơ sở vật chất 
- Về công tác quy hoạch đất trường, lớp học: Phấn đấu đến hết năm 2011 quy hoạch xong về đất, nguồn nước cho các trường học trên địa bàn toàn tỉnh, đảm bảo về vị trí, diện tích theo các tiêu chuẩn hiện hành của nhà nước. 
- Dự kiến đến năm 2020, nhu cầu sử dụng đất cho các trường mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp, dạy nghề (bao gồm việc mở rộng, thành lập mới) các trường trên địa bàn tỉnh là 485 ha, trong đó giai đoạn 2011-2015 cần 215 ha . 
- Thực hiện việc giao quyền sử dụng đất cho các trường học đảm bảo về vị trí, diện tích, thời gian và tiến độ của công tác đầu tư xây dựng trường học, kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia và thành lập mới các trường học. 
- Về cơ sở vật chất trường học: Mục tiêu đến hết năm 2015 xây mới: 3067 phòng học kiên cố thay thế phòng học mượn, nhờ và các phòng học tạm, phòng học bán kiên cố đã hết niên hạn sử dụng và số phòng học phát sinh thêm; 1180 số phòng học bộ môn, thư viện;1110 phòng làm việc; 1368 phòng công vụ và phòng nội trú; 69 nhà đa năng; 579 khu vệ sinh; 60 phòng học trung tâm học tập cộng đồng.
2.6.4. Kinh phí 
Tăng đầu tư của nhà nước, đẩy mạnh huy động các nguồn lực từ dân cư, đảm bảo đủ các nguồn kinh phí (chương trình mục tiêu, xây dựng cơ bản tập trung, kinh phí chi thường xuyên, kinh phí thu sự nghiệp), phục vụ cho dạy và học, xây dựng cơ sở vật chất trường học. Kinh phí ước thực hiện giai đoạn 2011-2015: 11337 tỷ VNĐ. 
3. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể giai đoạn (2016 – 2020) 
3.1. Phát triển mạng lưới trường lớp
 Củng cố, hoàn thiện hệ thống trường lớp mầm non và giáo dục phổ thông hiện có, ổn định hệ thống trường Phổ thông dân tộc nội trú, phát triển mạnh trường mầm non nông thôn các xã thuộc khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn. 
Dự kiến trong giai đoạn thành lập thêm 9 trường mầm non ở các xã thuộc khu vực đặc biệt khó khăn, đảm bảo mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất 1 trường mầm non; 
Dự kiến thành lập 10 trường tiểu học, 10 trường trung học cơ sở trên cơ sở tách 10trường phổ thông cơ sở; 
Thành lập 04 trường trung học phổ thông trên địa bàn các huyện. 
Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Thành lập 26 trường phổ thông dân tộc bán trú, nâng tổng số trường phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn tỉnh là: 58 trường (30 trường tiểu học và 28 trường trung học cơ sở) 
Với định hướng trên, kết thúc giai đoạn 2016- 2020 toàn tỉnh dự kiến có 769 trường, trung tâm (232 trường mầm non; 261 trường tiểu học; 216 trường trung học cơ sở; 11trường phổ thông cơ sở; 34 trường THPT, 11 Trung tâm giáo dục thường xuyên; 01 trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp - Hướng nghiệp; 01 Trung tâm Tin học- Ngoại ngữ và 01 trường cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật và 01 trường Cao đẳng sư phạm); 
Phấn đấu thành lập trường Đại học Lạng Sơn. 
3.2. Qui mô Phát triển, chất lượng giáo dục 
3.2.1. Giáo dục mầm non 
Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được chuyển biến về cơ bản, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất, tình cảm, trí tuệ và thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp 1. 
Huy động trên 50% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và trên 99% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo ra lớp, trong đó mẫu giáo 5 tuổi đạt trên 99,5%. 
Duy trì 100% trường học 2 buổi/ ngày, trong đó trên 50% trường tổ chức học bán trú;trên 92% số trẻ 5 tuổi đạt chuẩn phát triển về cân nặng, chiều cao; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm ở mức dưới 8%, tăng tỷ lệ trẻ em kênh A tại các cơ sở giáo dục mầm non đạt trên 92%; trên 80% nhóm, lớp mầm non bán trú, chuẩn bị tâm thế, tiếng Việt cho trẻ em trước khi vào lớp 1; trên 80% trường tiếp cận với tin học, ngoại ngữ. Đến năm 2020 có 70 trường chuẩn quốc gia. 
3.2.2. Giáo dục phổ thông 
Chất lượng toàn diện của học sinh phổ thông có sự chuyển biến rõ rệt. Học sinh có ý thức và trách nhiệm cao trong học tập, có lối sống lành mạnh, có bản lĩnh, trung thực, có năng lực làm việc độc lập và hợp tác, có kỹ năng sống, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, ham thích học tập và học tập có kết quả cao; có năng lực tự học. 
Tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp học được duy trì ở mức 90% trở lên đối với cả ba cấp học. Đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện, vững chắc cho học sinh. Đặc biệt chú ý tới chất lượng đạo đức, thể chất, thẩm mĩ và năng lực hiểu biết cuộc sống, kỹ năng thực hành cho học sinh. 
- Giáo dục tiểu học: Huy động trên 99,7% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; trên 95% trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập, đảm bảo có 100% học sinh tiểu học được học 2 buổi/ ngày; trên 85% trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu. Năng lực đọc hiểu và làm toán của học sinh được nâng cao rõ rệt, phấn đấu đạt 40% học lực giỏi môn tiếng Việt; 50% học lực giỏi môn toán; có trên 35% học lực giỏi văn hóa; trên 98% học sinh có hạnh kiểm thực hiện đầy đủ; có trên 90% học sinh đạt yêu cầu trong các đánh giá quốc gia về đọc hiểu và tính toán;100% học sinh từ lớp 3 trở lên được học chương trình ngoại ngữ mới. 
- Giáo dục trung học: Học sinh được trang bị học vấn cơ bản, kỹ năng sống, hiểu biết ban đầu về công nghệ và nghề phổ thông, được học một cách liên tục và hiệu quả chương trình ngoại ngữ mới. Cùng với việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh đại trà, tiếp tục bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu ở các lĩnh vực. 
- Trung học cơ sở: Tiếp tục duy trì tỷ lệ huy động trên 99% học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học vào học lớp 6; 100% học sinh THCS được giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp và học tin học, trên 50% trường Trung học cơ sở dạy 2 buổi/ ngày; 14% học lực giỏi; trên 40% học lực khá và dưới 3% xếp loại yếu; 
- Trung học phổ thông: Thu hút trên 85% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào Trung học phổ thông; 100% học sinh THPT được học giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông; trên 5% học lực giỏi; trên 35% học lực khá và học lực yếu còn dưới 5%; Hàng năm có trên 15% học sinh tốt nghiệp THPT loại khá, giỏi; 
Trên 35% học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng; trên 50% học sinh dự thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia, khu vực đạt giải cao.100% trường THPT dạy tin học và ngoại ngữ đạt yêu cầu về chất lượng. Học sinh tốt nghiệp có thể sử dụng tốt 1 ngoại ngữ và sử dụng thành thạo công nghệ thông tin trong công việc. 
- Đối với trường Trung học phổ thông chuyên, phấn đấu đến hết năm 2020 đạt các chỉ số: có 2% tổng số học sinh trung học phổ thông của tỉnh; trên 50% cán bộ, giáo viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; trên 50 % học sinh có học lực giỏi ; trên 70% học sinh giỏi tin học. 
3.2.3. Giáo dục thường xuyên 
Giáo dục thường xuyên được tiếp tục đẩy mạnh, tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình 
- Tiếp tục huy động từ 10-15% học sinh tốt nghiệp THCS vào học chương trình GDTX cấp THPT, tăng cường dạy nghề cho học viên trong các trung tâm GDTX và các đối tượng xã hội có nhu cầu. 
- Nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng ; các Trung tâm Tin học, ngoại ngữ ngoài công lập giúp người học có kiến thức, kỹ năng tiếp tục tham gia các chương trình liên thông, đa dạng và đáp ứng được yêu cầu công việc, nâng cao chất lượng cuộc sống. 
3.2.4. Giáo dục chuyên nghiệp 
Mở rộng qui mô và ngành nghề đào tạo có trình độ cao đẳng tại các trường cao đẳng và dạy nghề trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội. Đến năm 2020, quy mô tuyển sinh chuyên nghiệp và dạy nghề khoảng 20.000 người, trong đó cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp 4300 người; cao đẳng và trung cấp nghề 3200 người và Nghề dưới 12 tháng: 12.500 người 
Mở rộng hợp lý quy mô đào tạo bậc đại học, cao đẳng , phấn đấu bình quân đạt 300 sinh viên /1 vạn dân vào năm 2020. 
Coi trọng chất lượng đào tạo học sinh, sinh viên với mục tiêu phấn đấu khi ra trường có kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng sống, giỏi về kiến thức, vững về tay nghề. Có phẩm chất đạo đức, sức khoẻ, có khả năng sử dụng tốt tin học và ngoại ngữ. 
Tỷ lệ học sinh khá, giỏi đạt 40% trở lên, Tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 98%. 
Nâng tỷ lệ đào tạo nghề cho người lao động của tỉnh lên trên 50%. 
Đến năm 2020 có 100% trường chuyên nghiệp dạy ngọai ngữ đạt yêu cầu về chất lượng. Học sinh, sinh viên tốt nghiệp có thể sử dụng tốt 1 ngoại ngữ và sử dụng thành thạo công nghệ thông tin trong công việc. 
 3.3. Công tác phổ cập giáo dục, xây dựng trường chuẩn quốc gia 
- Tiếp tục duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng kết quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi có 158/226 (70%) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; phổ cập giáo dục trung học cơ sở một cách bền vững trên85%. Phấn đấu phổ cập giáo dục trung học phổ thông ở khu vực thành phố, thị trấn và các xã có điều kiện. 
- Triển khai mạnh mẽ xây dựng trường chuẩn quốc gia ở các cấp học. Dự kiến đến năm 2020 toàn tỉnh có 265 trường đạt chuẩn quốc gia (70 trường mầm non; 100 trường Tiểu học; 80 trường Trung học cơ sở, 15 trường Trung học phổ thông). 
- Đến 2020 có 85% thanh, thiếu niên trong độ tuổi có bằng tốt nghiệp THCS. Hầu hết các phường, thị trấn và các xã vùng I, II đạt chuẩn phổ cập giáo dục THPT (bao gồm THPT, bổ túc THPT, Trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp) 
3.4. Công tác giáo dục dân tộc
- Tiếp tục thực hiện chế độ cử tuyển, chế độ đào tạo theo địa chỉ và mở rộng các lĩnh vực đào tạo ở nhiều ngành, nghề, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh có chất lượng. 
- Mở rộng quy mô tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho trường trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và hệ thống các trường trung học cơ sở dân tộc nội trú; phát triển mạng lưới các trường phổ thông dân tộc bán trú ; đẩy mạnh công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia khu vực các xã đặc biệt khó khăn, khu vực có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Thành lập thêm (chuyển đổi loại hình) 25 trường phổ thông dân tộc bán trú, trong đó 15 trường tiểu học và 10 trường trung học cơ sở, nâng tổng số trường phổ thông dân tộc bán trú lên 58trường. Phấn đấu có thêm 15 trường phổ thông dân tộc bán trú đạt chuẩn quốc gia (10 trường tiểu học và 5 trường trung học cơ sở 
- Tiếp tục bổ sung các chính sách của tỉnh hỗ trợ giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh ở vùng dân tộc thiểu số, phát triển trường phổ thông dân tộc bán trú, đảm bảo học sinh có chỗ ở an toàn, đủ ăn, đủ mặc, đủ sách học. 
- Tiếp tục các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở mầm non, tiểu học 
3.5. Xã hội hoá giáo dục, hợp tác quốc tế 
Hội đồng giáo dục, Hội khuyến học các cấp từ tỉnh đến cơ sở tổ chức hoạt động có nề nếp, hiệu qủa, tạo động lực phát huy được sức mạnh tổng hợp toàn dân chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục. 
Chuyển một số trường mầm non công lập ở khu vực có điều kiện (thành phố, thị trấn) sang loại hình trường tự chủ hoàn toàn về tổ chức, biên chế, tài chính. 
Huy động sự tham gia của các doanh nghiệp trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tranh thủ vốn viện trợ, vốn vay và mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế trong việc xây dựng cơ sở giáo dục – đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội.
3.6. Các điều kiện thực hiện qui hoạch 
3.6.1. Đội ngũ cán bộ quản lý 
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có đủ theo định mức quy đinh, có đủ các yếu tố, phẩm chất, trình độ và năng lực, đạt chuẩn ở mức độ khá trở lên. 
- 100% cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có sức khoẻ, có trách nhiệm và kinh nghiệm quản lý. 100% được bồi dưỡng chương trình quản lý giáo dục theo qui định của Bộ GD&ĐT; 
- Trên 50% cán bộ quản lý cấp THPT có trình độ thạc sĩ quản lý giáo dục;
- Trên 60% cán bộ quản lý cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở có trình độ cử nhân quản lý giáo dục. 
- 100% cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn trình độ, chuẩn hiệu trưởng; trên 70% đạt chuẩn mức độ xuất sắc. 
- Trên 80% cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông, Trung tâm giáo dục thường xuyên; 100% cán bộ quản lý giáo dục cấp học Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở và các trường chuyên nghiệp có trình độ đào tạo trên chuẩn; 
 3.6.2. Đối với giáo viên 
- Bố trí đủ giáo viên, đảm bảo đồng bộ về cơ cấu các bộ môn ở các cấp học.
100% giáo viên cấp học: Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và giáo viên các trường Cao đẳng đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định hiện hành; trên95% giáo viên mầm non; 80% giáo viên tiểu học, trung học cơ sở; 30% giáo viên THPT và80% giáo viên trường cao đẳng có trình độ đào tạo trên chuẩn; trên 80% giáo viên các cấp đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá trở lên. Đến năm 2020 toàn ngành có 30 tiến sĩ. 
100% giáo viên các cấp học có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình và trách nhiệm cao trước công việc được giao. 100% giáo viên được bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn, nghề nghiệp. 100% giáo viên phổ thông có trình độ tin học A trở lên. 
Phấn đấu đến năm 2020 có 30% công chức, viên chức trong ngành có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên, 100% trường mầm non, phổ thông có cán bộ công nghệ thông tin có trình độ cao đẳng trở lên. 
 3.6.3. Cơ sở vật chất 
Phấn đấu đến năm 2020 : 100% trường học đủ phòng học văn hóa; phòng học bộ môn, phòng học chức năng, thư viện, nhà đa năng theo quy định đối với cấp học; đủ phòng làm việc của cán bộ, giáo viên theo quy định; trường có khuôn viên tường rào, nhà xe, nhà bảo vệ, khu vệ sinh, hệ thống cấp nước sạch theo quy chuẩn, đáp ứng sử dụng lâu dài. 
Dự kiến giai đoạn 2016-2020 xây dựng mới: 1443 phòng học kiên cố; 2679 số phòng học bộ môn, thư viện; 2343 phòng làm việc; 310 phòng công vụ và phòng nội trú; 183 nhà đa năng; 950 khu vệ sinh; 90 phòng học trung tâm học tập cộng đồng. 
3.6.4. Đầu tư kinh phí 
Đảm bảo đủ kinh phí chi thường xuyên, phục vụ cho dạy và học. Tỷ lệ chi lương, và có tính chất lương không cao hơn so với định mức chi theo quy định ở tất cả các cấp học, bậc học. Kinh phí ước thực hiện giai đoạn 2016-2020: 18.184 tỷ VNĐ
  IV.CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH 
1. Tăng cường công tác tuyên truyền 
- Đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền, tăng các chuyên san, chuyên đề trên các phương tiện thông tin đại chúng để giúp nhân dân hiểu rõ hơn chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về giáo dục và đào tạo; 
- Nhân rộng các gương điển hình tiên tiến và giáo dục như gia đình hiếu học, giòng họ hiếu học, thày cô dạy giỏi, trò học giỏi, các gia đình hiến đất cho việc xây dựng trường lớp... 
- Xác định rõ công tác tuyên truyền là giúp nhân dân hiểu rõ hơn vai trò, vị trí của giáo dục từ đó ủng hộ, chăm lo cho giáo dục, quan tâm việc học tập của con em. 
2. Đổi mới quản lý giáo dục 
- Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo. Thực hiện công khai đối với các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. 
 - Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý hướng tới tăng cường tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở các cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập, đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng giáo dục đào tạo, bảo đảm quyền lợi của người học . 
- Có chính sách thu hút học sinh tốt nghiệp đại học loại giỏi ở các trường Đại học danh tiếng, các chuyên gia có trình độ cao về phục vụ địa phương. Có cơ chế chính sách cho học sinh vùng đặc biệt khó khăn và vùng khó khăn trong tỉnh; cơ chế chính sách đối với cán bộ, giáo viên giỏi công tác lâu dài tại các xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn 
- Tập trung đầu tư các cơ sở đào tạo trọng điểm, làm đòn bẩy nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhân lực. 
- Tăng cường công tác thanh tra toàn diện, thanh tra, kiểm tra chuyên môn, thanh tra quản lý giáo dục, thanh tra tài sản theo quy định. Tiếp tục chấn chỉnh nề nếp kỷ cương trong nhà trường. 
- Tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, kết hợp công tác thanh tra và kiểm định chất lượng giáo dục. 
- Xây dựng cơ chế liên kết, phối hợp giữa các trường địa phương với các trường trung ương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ giáo viên, công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vào thực hiễn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của từng trường. 
- Tin học hoá hệ thống quản lý giáo dục của tỉnh. 
3. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục 
- Thực hiện tốt công tác quy hoạch đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Xây dựng Quy chế luân chuyển, quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học. Thực hiện các cơ chế, chính sách về tuyển dụng, luân chuyển, sàng lọc giáo viên, đãi ngộ, sử dụng cán bộ quản lý, giáo viên. 
- Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010"; Đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục do Ban Thường vụ tỉnh ủy ban hành. 
- Tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị 40/CT-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quán lý giáo dục. 
- Tiếp tục đào tạo chuẩn, trên chuẩn và đồng bộ đội ngũ giáo viên theo qui định của Luật Giáo dục đáp ứng đủ giáo viên, phục vụ thiết thực cho giáo dục các cấp học, bậc học. Tất cả cán bộ quản lí đều được đào tạo về quản lí nhà nước, có trình độ lí luận chính trị từ trung cấp trở lên. Có chính sách thu hút các giảng viên cao đẳng, đại học về công tác tại tỉnh. 
- Hợp tác, liên kết đào tạo với các trường đại học lớn trong và ngoài nước trong đào tạo, bồi dưỡng và trao đổi đội ngũ giảng viên trường cao đẳng sư phạm. 
- Ưu tiên tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy loại giỏi đưa đi đào tạo, bồi dưỡng sau đại học ở trong nước, nước ngoài bằng ngân sách của tỉnh. 
- Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nhằm bảo đảm yêu cầu dạy đủ môn học ở các bậc học (đặc biệt ở bậc tiểu học), thực hiện giáo dục toàn diện ở các trường phổ thông, bảo đảm cơ cấu giáo viên ở các trường chuyên nghiệp (về ngành nghề, trình độ được đào tạo...). 
- Hàng năm tạo điều kiện cho giáo viên đi học trên chuẩn. Có kế hoạch triển khai tốt các chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ cho giáo viên các cấp. 
- Tiếp tục đổi mới đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý, giáo viên nhằm thúc đẩy khả năng tự học, tự bồi dưỡng; thực hiện học sinh đánh giá giáo viên, giáo viên đánh giá cán bộ quản lý nhà trường, các cơ sở giáo dục đánh giá công tác quản lý, điều hành của các phòng cơ quan sở, của lãnh đạo sở. Gắn đánh giá xếp loại với việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ quản lí, điều động, luân chuyển giáo viên; với công tác thi đua, khen thưởng: đảm bảo sự đánh giá, khen chê đúng mức, chống chạy theo thành tích. 
4. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập và kiểm tra đánh giá các cơ sở giáo dục 
- Đẩy mạnh phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", chú trọng nội dung đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, tạo niềm tin và sự hứng thú học tập của học sinh. Tập trung giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh. 
- Tiếp tục đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm thúc đẩy đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng; dạy học gắn với thực tế cuộc sống, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn; xây dựng hệ thống câu hỏi học tập, hệ thống ngân hàng đề thi theo chuẩn kiến thức kỹ năng. 
- Chú trọng dạy học sinh cách học, cách tự học, cách tư duy bằng những hướng dẫn cụ thể như cách đọc sách, cách ghi chép, trích dẫn, mở rộng, bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt, hệ thống bài tập phù hợp với học lực của từng em, bằng dạy học theo dự án, xây dựng hồ sơ môn học, viết tiểu luận… viết các tài liệu hướng dẫn học sinh phương pháp học tập theo từng bộ môn, cấp học. 
5. Nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số 
- Xây dựng các chính sách của tỉnh hỗ trợ phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 
- Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị, dạy học ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đi đôi với chỉ đạo bảo quản, hướng dẫn sử dụng, phát huy tác dụng thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin, thực hành thí nghiệm. 
- Tăng cường đội ngũ giáo viên khá, giỏi đến công tác biệt phái ở vùng khó khăn. Quan tâm cụ thể tới điều kiện sinh hoạt, học tập của học sinh nội trú, bán trú dân nuôi. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền, công an địa phương, hội cha mẹ học sinh trong việc quản lý học sinh. 
- Tích cực triển khai thực hiện Thông tư số 24/2010/TT – BGD ĐT ngày 02 tháng 8 năm 2010 về xây dựng hệ thống trường phổ thông Dân tộc bán trú, coi đây là giải pháp lâu dài mang tính tích cực nhất góp phần duy trì ổn định và nâng chất lượng giáo dục vùng khó khăn. 
6. Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục 
- Tuyên truyền sâu rộng chủ trương chính sách về xã hội hoá giáo dục để các cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp, các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập và nhân dân có nhận thức đúng đầy đủ thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hoá giáo dục. 
- Thể chế hóa vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân và gia đình trong việc giám sát và đánh giá giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn. 
- Khen thưởng, tôn vinh các nhà hảo tâm, doanh nghiệp đã đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp giáo dục. 
- Khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục Lạng Sơn. 
7. Hợp tác quốc tế Mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực giáo dục và đào tạo:
- Đào tạo đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên theo các phương thức: gửi đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài; mời chuyên gia nước ngoài đến tập huấn; bồi dưỡng, đào tạo trong nước; trao đổi giáo viên, giảng viên, sinh viên. 
- Tranh thủ sự hỗ trợ của các dự án, các chương trình hợp tác để tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; 
- Hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. 
8. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài chính cho giáo dục
- Quy hoạch, cấp đủ diện tích đất cho các trường học theo tiêu chuẩn của trường chuẩn Quốc gia. Nêu cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn trong công tác quy hoạch đất trường học. 
- Tăng cường đầu tư kinh phí xây dựng kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, đảm bảo đủ phòng học cho mẫu giáo 5 tuổi, cho giáo dục phổ thông học 2 buổi/ngày. Đến năm 2020 không còn phòng học tạm, mượn ở các cấp học. Chú trọng đến chuẩn hóa trường, lớp học, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và trang thiết bị dạy học ở các cấp học, đặc biệt là đồ chơi an toàn cho trẻ em. 
- Xây dựng các khu ký túc xá chung cho học sinh, sinh viên các trường, cụm trường, nhà nội trú cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú. 
- Tăng tỉ lệ đầu tư ngân sách hằng năm cho công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực thêm 15 - 20% so với hiện nay. Kiên cố hoá các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, Giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp. Dành một phần kinh phí thoả đáng cho việc biên soạn nội dung, chương trình, giáo trình, tài liệu theo yêu cầu đổi mới, mở ngành nghề đào tạo mới. 
- Tiếp tục thực hiện giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở giáo dục và đào tạo theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ và giao quyền tự chủ về tổ chức, biên chế, sử dụng đội ngũ giáo viên.
- Tranh thủ các nguồn đầu tư của Trung ương qua các chương trình mục tiêu, vốn ngân sách trung ương, các dự án vay vốn quốc tế, liên doanh nước ngoài, vốn vay ưu đãi từ các tổ chức tín dụng đầu tư để tăng cường nguồn lực tài chính cho công tác giáo dục và đào tạo của tỉnh. 
- Tăng nguồn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước, phấn đấu bảo đảm tỷ lệ huy động từ xã hội hoá cho giáo dục và đào tạo nhân lực khoảng 15-20% so với định mức ngân sách bằng các hợp đồng liên kết đào tạo, sản xuất. 
V. NHU CẦU KINH PHÍ THỰC HIỆN QUY HOẠCH 
Nguồn kinh phí để thực hiện qui hoạch phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh được huy động từ nhiều nguồn lực khác nhau với nhu cầu kinh phí cả giai đoạn 2011-2020: 29521tỷ VNĐ, trong đó chi thường xuyên 22711 tỷ VNĐ, chi đầu tư xây dựng CSVC 6790 tỷ VNĐ và đào tạo bồi dưỡng 20 tỷ VNĐ. 
1. Ngân sách Nhà nước: Bao gồm ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh, ngân sách huyện. Đây là nguồn kinh phí chủ yếu để bảo đảm tài chính cho việc thực hiện đạt các mục tiêu, chỉ tiêu và triển khai tốt các chương trình hành động của các nhóm mục tiêu nêu trên:28657 tỷ VNĐ; 
2. Nguồn tài trợ của nước ngoài và vốn vay và đầu tư có yếu tố nước ngoài thông qua các dự án ODA, vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế và nguồn của từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước: 423 tỷ VNĐ; 
3. Nguồn vốn huy động trong nhân dân, các tổ chức kinh tế- xã hội và đóng góp của người học: 441 tỷ VNĐ. 
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 
1. Danh mục các đề án, dự án, kế hoạch để triển khai thực hiện quy hoạch 
Để có thể thực hiện được các mục tiêu của quy hoạch, cần tiếp tục thực hiện những đề án, dự án, kế hoạch đã được tỉnh phê duyệt và xây dựng những đề án, dự án, kế hoạch mới sau: 

TT

Tên đề án, dự án

Mục tiêu cuối cùng cần đạt

1

Xây dựng xã hội học tập

Phát triển hệ thống GD-ĐT của tỉnh hoàn chỉnh, đồng bộ, liên thông, chuẩn hoá, hiện đại hoá đáp ứng mọi nhu cầu học tập của nhân dân.

2

Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường  

Cơ sở vật chất  kỹ thuật của  nhà trường trong tỉnh được xây dựng và trang bị đầy đủ, đồng bộ theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, đáp ứng mọi nhu cầu của tổ chức dạy và học.

3

Tin học hóa hệ thống quản lý giáo dục

Hệ thống giáo dục của tỉnh được trang bị đầy đủ các thiết bị thông tin và kết nối thành một hệ thống thông tin quản lý thống nhất từ các cơ sở giáo dục đến hệ thống quản lý giáo dục các cấp. 

4

Dạy và học  môn tin học trong hệ thống giáo dục.

Học sinh và sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học có khả năng sử dụng thành thạo thiết bị tin học để khai thác và chuyển tải thông tin phục vụ cho học tập và hành nghề.

5

Dạy và học  môn ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục.

Học sinh và sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học có khả năng sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ.

6

Phát triển hệ thống ÐH&CÐ của tỉnh

Hệ thống Cao đẳng, đại học của tỉnh là một hệ thống đào tạo mang tính đại chúng, tạo mọi điều kiện, cơ hội và đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nhân lực có trình độ cao cho sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

7

Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD.

Hầu hết đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong tỉnh đạt chuẩn và trên chuẩn.




8

Gắn công tác đào tạo gắn với sử dụng.

Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo

9

Đề án thành lập trường chuyên biệt

Chuyển đổi trường phổ thông ở khu vực đặc biệt khó khăn, sang loại hình trường Phổ thông dân tộc bán trú, tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội học tập.

10

Xây dựng trường chuẩn quốc gia

Nhiều trường mầm non, phổ thông trong hệ thống giáo dục của tỉnh đạt chuẩn quốc gia. Một số đạt chuẩn khu vực.


2. Trách nhiệm của các Sở, Ngành, Đoàn thể và UBND huyện, thành phố 
2.1. Sở Giáo dục và Đào tạo 
Chủ trì, phối hợp với cấc cấp, các ngành và cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể cho từng năm và giai đoạn để chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Quy hoạch. Tổ chức đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch để bổ sung, điều chỉnh cũng như đề ra giải pháp, chính sách đồng bộ, đảm bảo thực hiện tốt Quy hoạch, Kế hoạch, phù hợp với thực tiễn địa phương; định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện Quy hoạch, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. 
2.2. Sở Kế hoạch và Đầu tư 
Chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài chính bố trí lồng ghép các nguồn vốn để thực hiện kế hoạch hàng năm và cho từng giai đoạn của Quy hoạch 
2.3. Sở Tài chính 
Chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Lạng Sơn đề xuất Uỷ ban Nhân dân tỉnh phê duyệt: Ngân sách sự nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản giáo dục; các chế độ, chính sách về nâng cao chất lượng đào tạo; các chế độ về thực hiện Đề án nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục... Tham mưu cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh thực hiện chính sách xã hội hoá đối với hoạt động giáo dục và đào tạo. 
2.4. Sở Tài nguyên 
- Môi trường Chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Uỷ ban Nhân dân các huyện, thành phố trong việc xác định, quy hoạch quỹ đất dành cho giáo dục. 
2.5. Sở Xây dựng 
Rà soát quy hoạch xây dựng để điều chỉnh bổ sung các công trình phù hợp quy hoạch phát triển giáo dục của tỉnh. Phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo trong công tác quản lý xây dựng cơ bản nhằm không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng các công trình trường học theo tiêu chuẩn. 
2.6. Sở Nội vụ 
Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thống nhất cơ chế, nhu cầu tuyển dụng, bồi dưỡng cán bộ giáo viên và đào tạo cán bộ quản lý; trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định trong các giai đoạn. Phối hợp với sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, tham mưu phân cấp quản lý giáo dục toàn diện. 
2.7. Sở Lao động 
– Thương binh và Xã hội Chủ trì, phối hợp với các cấp, các ngành và cơ quan liên quan xây dựng Kế hoạch, giải pháp cụ thể để chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ về phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tham m¬ưu, đề xuất các chính sách liên quan đến phát triển đào tạo nghề của tỉnh. 
2.8. Sở Khoa học và Công nghệ 
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và đưa ứng dụng Khoa học, công nghệ vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo. 
2.9. Sở Văn hóa 
– Thể thao và Du lịch Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong việc tuyên truyền giáo dục các giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống và các giá trị về đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, nhân văn trong giáo dục và đào tạo.
2.10. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận tổ quốc và các ban, ngành, tổ chức đoàn thể của tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân, đoàn viên, hội viên tham gia tích cực thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo chung của tỉnh. 
2.11. UBND các huyện, thành phố 
Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân trên địa bàn, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục và vai trò tầm quan trọng của giáo dục đối với công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội. 
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các ngành chức năng của tỉnh chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ quy hoạch 2011 - 2020 trên địa bàn; trước mắt lập kế hoạch triển khai xây dựng quy hoạch giáo dục cho địa phương. Trong đó đặc biệt quan tâm đến quy hoạch đất trường học, các giải pháp tích cực nâng cao chất lượng giáo dục vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. 
2.12. Các cơ quan thông tấn, báo chí địa phương, Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh: Xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền kịp thời, thường xuyên về hoạt động giáo dục và đào tạo của tỉnh. 
VII. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
1. Kết luận 
1.1. Giáo dục của tỉnh đã có bước phát triển theo hướng chuẩn hoá, xã hội hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 
1.2. Bên cạnh những thành tựu, giáo dục của tỉnh còn những tồn tại cần khắc phục như: chưa đánh giá đầy đủ nhu cầu và mức độ cần phải chuyển đổi trình độ của các lực lượng lao động theo kịp những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh. Một số cơ chế chính sách phát triển giáo dục và giáo dục nghề nghiệp chưa thật sự phát huy tác dụng...
Giáo dục và dạy nghề của Lạng Sơn đáp ứng được yêu cầu của phát triển Kinh tế - xã hội của tỉnh cần thực hiện bằng những mục tiêu đột phá sau: 
Đến năm 2020 xây dựng một hệ thống giáo dục đào tạo đồng bộ đảm bảo tính liên thông theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, quốc tế hoá, xã hội hoá (đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị…). Đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. 
Đến năm 2015 hệ thống quản lý giáo dục của Lạng Sơn được tin học hoá. Tất cả các cơ sở giáo dục được hoà mạng và có thư viện điện tử để học sinh, sinh viên có thể khai thác được thông tin trên mạng phục vụ học tập. 
Xây dựng trung tâm học tập cộng đồng thành trung tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, là hạt nhân để xây dựng xã hội học tập phường, xã. 
2. Kiến nghị 
2.1. Để thực hiện được quy hoạch phát triển giáo dục và nguồn nhân lực tỉnh Lạng Sơn, cần có sự quan tâm đặc biệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua các chương trình, dự án của Bộ để hỗ trợ thiết bị, đồ dùng học tập, cơ sở vật chất trường học đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, nâng cao trình độ quản lý và nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên. 
2.2. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành liên quan tạo điều kiện giúp địa phương xây dựng trường Đại học Lạng Sơn trên cơ sở nòng cốt là trường Cao đẳng sư phạm hiện nay; Đồng thời nâng cấp các trường Trung học kinh tế- kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn thành trường cao đẳng vào năm 2015. Trước mắt đưa vào danh mục Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng của cả nước giai đoạn đến năm 2020. 
 2.3. Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội để thực hiện quy hoạch phát triển giáo dục của tỉnh có hiệu quả./. 
  TM. UỶ BAN NHÂN DÂN 
  CHỦ TỊCH 


      (đã ký) 


  Vy Văn Thành






Các tin bài khác


1